Wednesday, December 31, 2025

Cuộc vượt trại tù Z30C, Hàm Tân - Con Sói Sơn Dương

Hai tháng trước, khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10/25 tôi đã đi Mỹ gặp lại bạn bè, có người đã mất liên lạc 50 năm. Đến Mỹ, tôi cố ý tìm gặp lại anh Mai Bá Trác (MBT) người đã cùng tôi vượt trại Z30c, Hàm Tân năm 1978. Gặp lại anh thì cũng chỉ tay bắt mặt mừng ‘ta vẫn còn đây’ nhưng đồng thời tôi cũng có một số câu hỏi mà chỉ sau nhiều năm chôn chặt tận đáy sâu tâm hồn, cần được giải đáp để mình biết mình là ai và cuộc vượt trại làm náo động trại Z30C năm 78 có một ý nghĩa nào khác.

Tôi được bạn tù Minh Rét (Huỳnh Dĩ Minh khóa 28 Võ Bị) mà gần đây tôi đã liên lạc được qua phone, cho biết MBT đã không còn liên lạc với bất cứ ai hay tập thể nào từ hơn một năm qua. Anh đang sống trong một trại dưỡng lão và biết quỹ thời gian của anh đã cạn, âm thầm chờ đợi những ngày còn lại. Anh cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài.

Tôi đã nhắn tin cho anh và cho cả cháu Mai Mai Lisa là con gái của Trác với Khánh Ly. Nhưng đều vô ích. Một bạn tù đội 45 là Kháng ở Cali, giữ vai trò “sĩ quan liên lạc” của đội 45, đã vài lần với chuyện với Trác trước đây, đã gọi, nhắn tin nhiều lần khi biết tôi muốn gặp Trác, cũng không được trả lời. Cho tới khi tôi trở lại Nam Cali sau một vòng tìm thăm các bạn ở Los Angeles, San Francisco, Houston… thì được Kháng cho biết Trác đã có gọi lại nhưng không may Kháng không có mặt trả lời. Có lẽ đây là cố gắng cuối cùng anh muốn liên lạc với bạn tù, nhưng xem ra định mệnh đã an bài.
Về lại Úc được chừng một tuần, Minh rét báo tin Mai Bá Trác đã qua đời. Cáo phó cũng do bạn bè bên Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) đăng lên cho bạn hữu xa gần biết. Không có vợ, con hay và cả cháu Lisa đứng tên cáo phó. Tôi với anh Trác đã hết duyên.

Ở tuổi 70-80, chuyện ra đi không có gì phải ầm ỹ. Như Trịnh Công Sơn thì chỉ là đoàn tụ “đứa con xưa đã tìm về nhà”. Hoặc như Tô Thùy Yên “ta về, như lá rơi về cội” thấm đẫm triết lý nhân sinh. Biết rằng ‘đường trần đâu có gì’ nhưng tôi cũng không nén nổi một tiếng ngậm ngùi.

Tôi cố góp nhặt lại những mảnh vỡ trong ký ức để thử ráp lại hình ảnh cuộc vượt ngục từ gần 50 năm trước với anh.

-----------------------------------------------------------------------------------

Cuối năm 1978, trại tù Z30C, Hàm Tân

Tôi vẫn giữ thói quen mỗi buổi sáng làm nóng cơ thể trước khi ra đào ‘ao cá bác Hồ’ trước bộ chỉ huy của trại cải tạo Z30C. Anh Trác cùng đội 45 với tôi không biết từ đâu đến khều tôi, miệng, mắt cười thân thiện:

-         “Anh sắp ‘đi’ rồi, Sơn có ‘đi’ với anh không?’

Tôi không biết Mai Bá Trác trước đó. Có chăng là những ‘huyền thoại’ được các bạn tù bên Nhảy Dù trong trại kể lại khi có dịp. Tôi nghe với chút thú vị và hờ hững. Rằng Mai Bá Trác là dân LLĐB, từng là trưởng căn cứ Thiện Ngôn ở biên giới Việt-Miên. Là dân nhảy toán một thời gian. Dọc ngang một trời. Có thời ngông cuồng quậy ở Sàigòn bị báo chí khai thác về xì-can-đan thách đấu súng với Đỗ Hữu Tùng bên Thủy Quân Lục Chiến, liên quan đến ca sĩ Khánh Ly.

Có lẽ MBT đã âm thầm chọn tôi trước nhiều tay có thành tích trốn trại “liều, lì, lanh” trong đội 45. Tôi không được nói chuyện với anh nhiều. Biệt đội 45 gồm những tên tù trốn trại và những thành phần bị coi là “bất trị” dưới con mắt của ban quản giáo Z30C. Tôi biết chắc âm mưu trốn trại không phải chỉ nung nấu trong riêng tôi hay MBT mà phải nói gần phân nửa đội 45 chuẩn bị. Chỉ cần thời cơ đến là bay. Anh Trác quan sát và quyết định tôi có thể ký “hợp đồng trốn trại”. Thế nên câu trả lời của tôi rất tự nhiên:

-         “Đi. Nhưng đi đâu? Tôi không muốn về Sài gòn”.

-         “Không về Sài gòn. Mình lên núi Mây Tào, tìm đường lên Định Quán, sau đó lên Tây nguyên, gia nhập FULRO.”

-         OK.

Tôi chỉ biết đại khái FULRO là tên viết tắt từ tiếng Pháp “Front Uni de Lutte des Races Opprimées) là một lực lượng người Thượng có vũ trang trên Tây Nguyên đòi quyền tự trị và chống lại mọi chế độ áp bức người sắc tộc dù là Pháp, VNCH hay Cộng sản. Chế độ nào cũng muốn kiểm soát Fulro để yên ổn bình định Tây nguyên nhưng chưa chế độ nào thành công. Thế nên trốn tù cộng sản để gia nhập Fulro là lối thoát logic nhất cho bọn tù như chúng tôi, tôi nghĩ thế.

Tôi đã có bản đồ và địa bàn tự chế (lấy nam châm làm điểm Bắc). Đối với tôi như thế là đủ. Tôi có kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm ở Kà Tum. Tôi không sợ đói trong rừng. Kinh nghiệm bị bắt lại trong lần trốn trại một mình dạy tôi cần phải có bạn đồng hành và phải biết mình đi đâu, làm gì và xác suất thành công là bao nhiêu. Tôi đã bắt tay OK  ngay với anh Trác vì, dù anh chưa từng trốn trại trước đó, anh là người bản lãnh, có kinh nghiệm đi rừng, che dấu tung tích, trong đó quan trọng nhất không bỏ bạn bè trong lúc nguy khốn của Lực lượng Đặc biệt.

Tôi dấu âm mưu trốn trại với các bạn đồng tù. Sợ có tên nào liều lĩnh hơn zulu trước, đám còn lại lãnh đủ.

Một, hai ngày sau, Trác gặp tôi sơ thảo kế hoạch vượt ngục. Trác sẽ khai bệnh ngày G, thay thế Hiệp Nhô nấu “chè rễ tranh” trong nhà Lô, phục khoai lang quản giáo Bảy Potato. Trác sẽ sụp hờ cánh cửa sổ nhà Lô xuống để che mắt Bảy Potato không nhìn thấy tù ở dưới ‘ao cá bác Hồ’. Trác tạo không gian kín đáo cho quản giáo yên tâm ăn khoai lang và hút thuốc lào say sưa khuất mắt bọn tù. Khi quản giáo đã no khoai và thấm thuốc lào, Trác sẽ ra hiệu cho tôi giờ hành động. Trác sẽ cởi nút áo trây-di để lộ áo thun trắng không thể nhầm lẫn. Trác sẽ huýt sáo bài “Tình Nhớ” làm hiệu bỏ cuốc xẻng lên nhà Lô gặp Trác rồi Zulu.

Tôi không thể nhớ giờ G ngày vượt ngục. Chỉ nhớ vào khoảng giữa chiều, sau giờ điểm danh. Bọn quản giáo bắt tù phải điểm danh mỗi giờ. Khi quản giáo hô “điểm danh”, một tù nhân đếm 1, những tù nhân khác sẽ tuần tự sẽ đếm 2, 3, 4… tiếp theo cho đến đủ quân số. Như vậy thời gian vượt ngục lý tưởng nhất là sau giờ điểm danh vì còn có gần một giờ chạy vào rừng trước khi bị phát giác.

Ngày G. Tôi đang xúc đất thì nghe tiếng huýt sáo “Tình ngỡ đã quên đi…”. Tôi nhìn lên nhà Lô, thấy Trác để lộ ra áo thun trắng nhìn về tôi. Tôi bình tĩnh bỏ cuốc đất đi lên phía nhà Lô, mắt đối mắt với Trác. Hình như Trác có đôi chút do dự. Tôi liếc nhanh xuống ‘ao cá bác Hồ’, các bạn tù khác đã nhìn thấy tôi và Trác. Phải dứt khoát, do dự là chết. Tôi chạy biến vào bụi tre gần nhất trước mặt và té ngay xuống cái hố bom đã bị trùng trùng điệp điệp gai mắc cỡ làm thành một tấm nệm phủ kín mặt hố.

Tôi cố bơi sang bên kia hố bom, bất chấp gai góc. Tôi không nghe tiếng người chạy xuống hố sau tôi. Một thoáng déjà vu lóe lên hình ảnh tôi trốn tù một mình như lần đầu ở Kà Tum. Nhưng tôi không sợ. Tôi đã chạy mà Trác không chạy, Trác cũng chết vì bọn quản giáo. Tôi đang cố bơi cạn lên mặt hố thì nghe tiếng người té lăn xuống hố. Tôi nhìn thấy Trác và một người nữa (sau này mới biết là Nguyễn Tường Tuấn). Tôi lôi vội Trác và Tuấn lên và thúc chạy nhanh vào rừng. Chúng tôi chỉ có 15 phút phải chạy hết sức mình để thoát khỏi tầm sát thương của súng AK. Sợ nhất và rủi ro cao nhất là trong lúc chạy chúng tôi bị phát giác bởi các toán tù lao động “thông tầm”. Những toán này được quản giáo cho đi vào rừng canh tác, khoai mì, khoai lang, bắp… xa trại. Gọi là ‘thông tầm’ vì họ được mang theo cơm để ăn trưa cho đến khi chiều mới về trại. Các toán ‘thông tầm’ có 1,2 vệ binh vác súng đi theo.

Có những khoảng đất trống được đánh vồng trồng dưa leo, hay khoai lang, khoai mì… chạy tắt qua  nhanh hơn nhưng có rủi ro bị phát giác. Chúng tôi đành chạy nhanh theo đường vòng nhờ rừng rậm che chở. Đã qua 15 phút đầu tiên không bị phát giác. Chúng tôi biết đã thoát.

Trác và Tuấn bị hốc vì dùng tất cả sức mạnh cơ thể để chạy trong 15 phút, phải đi chậm lại lấy sức thở và sau đó nhắm hướng núi Mây Tào mà chạy.
Sau này Minh Rét cho biết: Sau khi chúng tôi đi Bảy Potato cho điểm danh. Mất 3 người. Tổ 1 mất Mai Bá Trác, Tổ 2 mất Dương Thu Sơn. Tổ 3 mất tổ trưởng Nguyễn Tường Tuấn! Kinh hãi Bảy cho điểm danh lần nữa. Vẫn mất 3 người. Bảy bỏ cả nồi khoai lang, báo động vệ binh trong rừng bắn chỉ thiên báo có tù vượt ngục.

Ít có cuộc vượt ngục nào thành công trước chúng tôi. Thường thì các tù nhân bị bắt lại sau hai ba ngày trong rừng. Hoặc bị vệ binh và quản giáo bắt lại tại ngã ba Ông Đồn, là cái nút thắt cổ chai trên Quốc lộ 1 hướng về Sàigòn. Vệ binh và quản giáo sẽ cho chận mọi phương tiện chuyên chở đi qua Ngã ba Ông Đồn, lên xe đò tìm bắt người trốn trại. Chúng tôi biết thế nên quyết leo lên núi Mây Tào ẩn náu ít nhất là 3 ngày.

Ba chúng tôi đi sâu vào rừng núi Mây Tào. Ban ngày ‘ô’ lại trong các bụi rậm dưỡng sức và tránh rủi ro bị phát giác, tối mầm mò lối đi lên núi. Đến ngày thứ 4 hay 5, khi đã biết chắc đã thoát khỏi sự truy đuổi của vệ binh, chúng tôi tìm đường xuống núi. Tôi làm khinh binh đi đầu, Trác đi sau quan sát  tình thế. Trinh sát sư đoàn 5 Nguyễn Tường Tuấn bọc hậu phía sau coi chừng bị cọp bắt.

Trong lúc mưu sinh thoát hiểm, tôi bị tai nạn. Khi thọt tay vào một trong những hang hốc chạy xuôi theo các đường mòn trên núi tìm đồ tươi, ốc, chim, chuột… tôi có cảm tưởng bị cắn và rút vụt tay ra. Một con rít rừng vàng ươm, dài khoảng 2.5 tấc, dính theo tay tôi bay ra ngoài. Chỉ 5 phút sau, nọc độc của con rít làm tay trái tôi bị sưng phù lên. Tôi phải xé một phần của tay áo làm cái dây treo cánh tay lên ngực. Tôi đã đi hết chặng đường đau khổ 10 ngày vượt ngục với cánh tay trái bị thương. Về đến Sàigòn tay tôi vẫn còn sưng.

Có lần đang ô trong một bụi rậm gần một trong những con đường mòn, chúng tôi phát giác có người đi về phía chúng tôi. Người này thỉnh thoảng hú lên một tiếng báo điểm đứng với dăm ba người khác đang mưu sinh trong rừng. Chúng tôi cần hỏi đường nên quyết định ra mặt. Tuấn là người có khiếu ăn nói nên xuất hiện trước. Trác và tôi còn ẩn mình. Tuấn thuyết phục ông này chúng tôi là lính VNCH tìm đường ra quốc lộ và sẵn có mang thuốc tây xin tặng cho ông dăm ba viên thuốc sốt rét hoặc paracetamol trị ngừa đau lưng, nhức mỏi, chóng mặt. Ông thợ rừng vô cùng biết ơn và xin đổi lại phần cơm trưa đi rừng của ông! Ông chỉ đường ra quốc lộ rồi đẩy chiếc xe thồ đi mất, không quên hú lên một tiếng. Sau khi ông đi chúng tôi vội vã chia nhau phần cơm của ông rồi rút nhanh. Không ai biết ông này có thể báo công an tung tích của ‘lính VNCH’ trên núi nên phải có thái độ phòng ngừa tối đa.

Càng đi dần xuống núi cho đến khi chúng tôi gặp một số người đi làm than lậu, than chui tuốt tận trong rừng sâu, chúng tôi biết đã xa dần núi Mây Tào. Những người này không quan tâm đến ‘những người làm than khác ‘như chúng tôi nên không nghi ngại chỉ cho đường ra khỏi núi. Phải lội ngược qua những con suối, có chỗ ngập qua đầu, rồi đi ngược theo con suối ra lộ. Không có những chỉ dẫn này, chúng tôi còn phải lạc lối đi thêm nhiều ngày trong rừng.

Chúng tôi đã đi qua một con suối lớn (Suối La Ngà?), bề ngang hơn 10 thước, nước chảy mạnh tung lên những hòn đá tảng. Nước suối trong văng vắt. Chúng tôi mặc sức tắm thỏa thích trả thù những ngày bị Bảy Potato cấm không cho tắm vì tội “chay lười lao động”! Trời sụp tối, ánh sáng tắt nhanh. Một mặt trăng như tôi chưa từng thấy tỏa ánh sáng huy hoàng lên cả khu rừng.  Chúng tôi băng qua con suối rồi đi ngược bàn chân lên bìa rừng để đánh lạc hướng bất cứ ai tìm theo dấu chân chúng tôi.

Có lẽ đến sang ngày thứ 7 hay 8 thì chúng tôi mới cảm nhận được đã ra khỏi rừng. Chúng tôi nhìn thấy trời xanh và những hàng rào đậu rồng. Đậu rồng không phải là rau hoang. Phải có người trồng. Đi qua khoảnh đất vồng trồng rau lang hay khoai mì, tôi nghe văng vẳng tiếng người. Tiếng của một người phụ nữ và tiếng của đứa con trai. Tôi chợt sợ hãi. Tôi đã bị con người bắt lại trên đường trốn sang đất Miên. Tôi gọi Trác và Tuấn nên quay trở lại rừng. Nhưng Trác và Tuấn có suy nghĩ khác. Hai người quyết định lộ diện tìm đồ tiếp tế.

Trác và tôi ẩn mình chờ kết quả Tuấn trổ tài thuyết pháp với một người đàn bà độ khoảng trên dưới 40 tuổi và con trai đang cuốc đất trên vồng khoai lang. Chỉ khoảng 5 phút sau, Tuấn ngoắc Trác và tôi ra trình diện. Gương mặt Tuấn có vẻ phấn chấn. Người đàn bà xúc động cho biết chị có bà con xa với một người bà con của anh Mai Bá Trác. Dù chị chưa từng gặp Trác nhưng cái tên Trác thì chị đã nghe vài lần. Chị cho biết chồng chị là một đại úy cảnh sát đang bị cải tạo. Chị dẫn con đi kinh tế mới, cuốc đất trồng khoai ở đây để mong được nhà nước cứu xét cho chồng chị được về sớm với gia đình! Chị rất vui khi gặp được Trác là người bà con xa và sẵn lòng giúp đỡ. Chị sai thằng bé về nhà nấu cơm và luộc ngay con gà đãi người bà con.
Khi biết chuyện trốn tù của bọn tôi, chị sẵn lòng giúp đỡ. Theo kế hoạch, chị cho đứa con trai dẫn đường đưa Tuấn ra Long Khánh tìm tiếp tế trước, vì Tuấn có người quen ở Long Khánh. Tuấn cho Trác biết địa chỉ của người thân ở Long Khánh ngừa khi hữu sự. Sau đó đứa bé sẽ trở lại dẫn chúng tôi đến nhà người quen của Tuấn.

Khi trinh sát Tuấn đi rồi, Trác và tôi nằm chờ ngoài rẫy thầm cám ơn cơ may đã đưa chúng tôi đến vị ân nhân bất ngờ. Trời đã chiều rồi nhưng vẫn không thấy tăm hơi tin tức của Tuấn. Trác bắt đầu bồn chồn. Cho tới khi chú bé dẫn đường trở về nói với chúng tôi Tuấn đang chờ Trác và tôi ở Long Khánh. Chờ đến khi trời đã sụp tối hẳn, Trác quyết định cùng tôi tìm đến nhà người quen của Tuấn.

Từ trong rừng Trác và tôi lội ra đường lộ không một bóng người dưới ánh trăng sáng vằng vặt. Tôi không rõ lúc đó chúng tôi đã vượt qua Ngã Ba Ông Đồn chưa nhưng chúng tôi cứ đi dọc theo quốc lộ mà không gặp một ngã ba nào. Thời may có tiếng một chiếc xe lam từ xa. Trác ngoắc anh tài xế. Anh ta lè nhè nói anh ta chạy về Long Khánh vì đã quá khuya và quá say! Đi bộ mệt quá, Trác quyết định cứ đi xe lam nếu tài xế có quá say, sẽ ném tài xế xuống đường rồi lái xe lam về Long Khánh. Người tài xế chưa đến nỗi “say quắc cần câu”, anh ta vẫn còn điều khiển được chiếc xe chạy theo hình con rắn trên quốc lộ. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa! Đã có lúc Trác và tôi muốn giành lấy quyền làm tài xế cho đỡ đau tim. Nhưng nghĩ lại một tai nạn xe lam không thể làm chết người nên chấp nhận phó thác số phận cho anh tài xế. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được nhà người quen của trinh sát Tuấn.

Khi đến nhà người quen của Tuấn thì được biết ‘người đã đi rồi’! Chúng tôi chới với. Người quen Tuấn cho chúng tôi biết địa chỉ của Tuấn ở Sàigòn. Trác tức giận không thấy Tuấn “Đm. thằng Tuấn dám bỏ tao à! Tao với mày phải về Sàigòn tìm cho ra thằng Tuấn coi nó muốn gì!”.

Sau đó, Trác nhờ người quen của Tuấn mua giúp hai vé xe lửa của chuyến xe cuối cùng từ Long Khánh về Saigòn. Chúng tôi về đến ga Bình Triệu thì trời đã quá nửa đêm. Tôi hoàn toàn không muốn về Sàigòn nhưng tình huống đã đưa đẩy tôi rơi vào tình trạng không còn chủ động được nữa. Tôi coi như đã phóng lao phải theo lao.

Xuống ga Bình Triệu, Trác dặn tôi trước 9 giờ sáng phải đến một địa chỉ ở gần chợ Thị Nghè. Sau đó tôi sẽ ra chỗ xe nước mía gần cây xăng nhất đúng 9 giờ sáng để gặp Trác. Trác bảo tôi tìm cách ô qua đêm rồi sẽ gặp nhau sau. Trác cũng tìm nhà người quen qua đêm vì lo ngại hai người đàn ông mặc quần áo nhà binh cũ, một người bị thương tay treo lên ngực, cùng đi với nhau có thể sinh nghi ngờ. Tôi ngủ lại ga Bình Triệu cùng với rất nhiều dân kinh tế mới, con buôn nằm rải rác trên sân ga. Trác lẩn vào đêm tối.

Trời sáng. Tôi đoán cũng phải 6, 7 giờ. Từ ga Bình Triệu lội bộ vô Thị Nghè cũng phải mất một tiếng, tôi không đi vội vã vì không muốn đến chợ Thị Nghè quá sớm. Hình như là ngày Chủ nhật, thiên hạ và xe cộ qua lại. Công an mặc áo vàng đứng rải rác dọc hai bên đường. Mọi người có vẻ xơ xác và bận bịu theo đuổi những ý nghĩ riêng của họ. Khu Bình Triệu đi tới Hàng Xanh vào chợ Thị Nghè không còn không khí tấp nập như xưa.Tôi đến địa chỉ hẹn, cầm chắc đúng địa chỉ, gõ cửa.

Một người đàn ông nhỏ con, mặt hơi xanh, mặc áo thun ba lỗ màu cháo lòng ra mở cửa. Tôi bước vào nhà và trấn an anh ta ngay khi thấy anh ta có vẻ nghi ngại Tôi nói anh đừng sợ. Tôi là người cùng vượt trại cùng với anh Tuấn và MBT. Tuấn đã ghé về đây trước chúng tôi và có hẹn với chúng tôi tại đây. Tôi xin anh địa chỉ của anh Tuấn để tìm lại bạn. Nhưng thật bất ngờ anh này nói Tuấn không có ghé lại đây và không để lại địa chỉ nào. Tôi thuyết phục anh ta chúng tôi có hẹn ở đây. Tuấn đã để lại địa chỉ cho chúng tôi tới đây. Bằng không tôi không thể biết địa chỉ này. Ánh mắt của anh lộ vẻ bối rối và lắc đầu nói Tuấn không có đến đây. Tuấn cũng không để lại địa chỉ nào. Tôi ngồi xuống ghế cố thuyết phục anh ta cho tôi địa chỉ của Tuấn rồi tôi đi ngay, không làm phiền anh ta nữa. Nhưng anh ta nhất định Tuấn không có ghé nhà và cũng không để lại địa chỉ. Tôi cố gắng tìm cách lấy lòng tin của anh ta và nài nỉ anh cho biết Tuấn đã đi đâu. Nói lòng vòng một lát kéo dài giờ cũng không ra địa chỉ của Tuấn. Tôi bỗng tình cờ nhìn thấy cái đồng hồ báo thức trên đầu tủ lạnh của anh chủ nhà. Cái đồng hồ báo thức màu trắng, hình tròn, có hai chân chống và cái nút báo thức ở trên và giữa đồng hồ. Nó chỉ đúng 9 giờ sáng! Tôi tá hỏa năn nỉ anh chàng này thêm lần cuối. Anh vẫn nhất định Tuấn không để lại địa chỉ. Tôi bước ra khỏi nhà hoang mang tột độ. Không biết anh chàng này nói dối hay vì đã được dặn dò trước đó.

Tôi bước đi dọc theo con đường Hồng Thập Tự (?) chạy dài từ Thị Nghè đến Ngã tư Hàng Xanh. Tôi nhìn thấy cây xăng và xe nước mía nhưng không thấy Trác. Tôi điếng hồn, tới lui vài lần nhỡ khi anh Trác đến trễ. Nhưng không thấy bóng Trác.

Tôi đã từng cảm nhận được hạnh phúc, tự do và tự tin trong khu rừng lồ ô mênh mông dày đặc ở Kà Tum, nơi không một bóng người, ngoài những cơn mưa rừng xối xả. Tôi đã cảm nhận được trạng thái tự do tuyệt đối. Nhưng ở đây nơi hàng vạn con người tất tả mưu sinh, xe gắn máy, xe đạp tấp nập, tôi đứng một mình bên đường, cô đơn và lạc lõng. Cánh tay trái còn sưng vù vì nọc độc của rít rừng.

Cũng phải gần 2 năm sau, tôi mới gặp lại MBT. Tình cờ tôi gặp Dũng ruồi, Trần Hữu Dũng, bạn cùng khóa 4 ĐH/CTCT với tôi ở Đà Lạt. Dũng biết chuyện tôi trốn trại với MBT vì Dũng đang chạy mánh các mặt hàng hiếm như hải bàn, hải đồ và các dụng cụ đi biển cho Trác.

Tuần sau tôi đến Dũng và được cho một địa chỉ đến gặp Trác. Tôi không nhớ quán cà phê vườn này ở đâu nhưng khi vào tôi thấy có ánh đèn xanh đỏ lấp lánh không thấy hết mặt người. Trác ngồi trên cái ghế phô tơi cùng với một phụ nữ bên cạnh và dăm ba bóng người khác nữa không nhận rõ mặt. Tôi ôm chầm lấy Trác hỏi anh khỏe không. Trác bắt tay tôi rất chặt và hỏi ngay: “tại sao ngày hôm đó Sơn không ghé nhà người quen của Tuấn ở Thị Nghè???” Tôi sửng sốt? Cái gì? Sao anh biết tôi không đến địa chỉ đó? Anh đã gặp Nguyễn Tường Tuấn và Tuấn đã nói láo với anh như thế à? Anh nghĩ tôi sợ gì mà không đến điểm hẹn? Tôi ngồi xuống ghế kể lại toàn bộ câu chuyện đã xảy ra mà vì nó tôi đã bị mất liên lạc với anh. Trác nói anh đã ngồi chờ tôi ở xe nước mía trước 9 giờ, hơn nửa giờ sau khi không thấy tôi xuất hiện, anh mới bỏ đi. Chắc chắn anh Trác đã nói thật, như tôi đã rất thật. Nhưng oái oăm nào đã làm chúng tôi thất lạc nhau? Phải có một nguyên do. Tôi chợt ôm đầu vỡ lẽ ra cái đồng hồ trên tủ lạnh trong nhà người quen Tuấn đã chỉ giờ bậy. Nó là cái đồng hồ đã chết từ bao giờ. Nó chỉ biết chỉ 9 giờ! Nó làm Trác và tôi lạc mất nhau từ 2 năm nay. Hỡi ơi! Nhưng dù cái đồng hồ có chỉ đúng sai, chuyện nhỏ. Chuyện anh này nói Tuấn đã không ghé nhà, không để lại địa chỉ cho tôi và Trác mới là chuyện đáng phẫn nộ. Tôi tin chắc Tuấn đã gặp lại Trác trước tôi và nói tôi đã không đến điểm hẹn.Tôi nổi điên yêu cầu Trác cho tôi gặp Tuấn. Nhưng Trác trầm ngâm một hồi lâu rồi bảo tôi tuần sau đến nhà Trác ở đường Trương Minh Giảng nói chuyện.

Tôi đến nhà Trác (chính ra là nhà chị Thơ, partner của Trác sau khi trốn tù về) tuần sau. Đó là căn nhà 3 tầng lầu bề thế và kín cổng cao tường. Khi tôi đến, tôi được biết đang có một phiên họp lần chót giữa chủ ghe và các hành khách trên lầu. Những người thanh niên còn trẻ (sau này mới biết là toán tài công) ngồi ở phòng khách nói chuyện huyên thuyên. Họ nói có Lệ Thu và Ngọc Minh trong chuyến đi. Buổi họp đã xong nhưng khách khứa đã ra về bằng cửa khác nên tôi không thấy ai ra cửa chính. Khi không còn ai, MBT ra ôm tôi, trầm ngâm nói Tuấn nằm trong ban chủ tàu và nắm hết mọi bí mật của chuyến đi. Bỏ Tuấn ra, chuyến đi có nhiều rủi ro bất ngờ. Sơn ở lại còn chuyến sau. Anh sẽ gởi Sơn cho mấy người bạn tốt của anh và nhờ họ giúp Sơn. Anh cũng chỉ là một trong những người tổ chức. Anh không thể vượt quyền những chủ tàu khác. Anh không tin tưởng Tuấn nhưng vì an toàn cho chuyến đi anh không thể làm khác hơn. Tôi tự ái không một lời xin xỏ MBT. Điều tôi cay đắng nhất là tại sao Tuấn không ra gặp tôi ở nhà Trác để ‘tay bắt mặt mừng’ mà tránh né tôi. Mãi cho đến ngày hôm nay năm 2025, tôi vẫn tự hỏi Tuấn có điều gì không ổn với tôi chăng?

Tôi được nghe nói chuyến đi của Trác và Tuấn thất bại. Trác làm một chuyến khác và thành công. Anh đến Canada sau đó di cư qua Mỹ. Các chuyện sau đó là chuyện khác.

Trinh sát Tuấn sau đó cũng làm được một chuyến đi khác, nhưng bị tổ trác. Tuấn bị bắt lại và phải vào Chí Hòa sám hối thêm hai năm trước khi vượt biên cùng gia đình đến được Mã Lai rồi đi Mỹ.

Cách đây ít nhất cũng mười năm MBT có đến Úc thăm bạn bè và gặp tôi ở Sydney. Một người bạn trong LLĐB của Trác, Thiếu tá Phạm Duy Ánh, là người cũng làm việc với tôi trong tòa báo Việt Luận biết chuyện tôi với Trác, đã tạo cơ hội cho chúng tôi gặp nhau. Chúng tôi cùng đi ăn, uống cà phê và nói những chuyện đời thường ở xứ người. Thật sự tôi không còn nhớ chúng tôi đã nói với nhau cái gì trong lần gặp mặt ấy, ngoài sự hỏi thăm cuộc sống của nhau và hỏi thăm các bạn tù đội 45. Hình như không nói về Tuấn. Mà tôi cũng không hỏi. Tôi đã chôn chặt và ném chuyện vượt ngục về bên kia bờ Thái Bình Dương. Tôi đã biết tha thứ và hòa giải với chính mình. Dù tôi không quên.

Tôi được biết hình như Mai Bá Trác có đến Sydney thêm một lần nữa. Nhưng tôi không có cơ hội gặp anh. Tôi vô tình đánh mất cái mobile có số điện thoại của anh xuống biển Cronulla, Sydney.

Tôi đã cố liên lạc với anh khi qua Mỹ. Nhưng không được. Anh đang sống những ngày âm thầm cuối đời. Lần gặp mặt cách đây 10 năm là lần cuối cùng. Tôi với anh đã hết duyên.

Tôi có xem clip video về ngày chôn cất MBT ở Nghĩa trang Westminter Memorial. Không có ai ngoài bạn bè đồng ngũ chừng hơn chục người. Có một vài người mặc quần áo đen để tang nhưng tôi không biết ai. Tôi nhìn quan tài của anh. Cô độc, âm thầm. Một đời ngang dọc rồi cũng chỉ thế.

Sự lặng lẽ của anh Trác làm tôi nhớ bài thơ ‘La Mort du Loup’ của Alfred de Vigny. “Cái chết của con chó sói”.

“Gémir, pleurer, prier est egalement lâche”
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Puis, après, comme moi, souffre et meurs sans parler
(Rên rỉ, khóc lóc, kêu than tất cả đều hèn nhát.
Làm hết sức bổn phận dài lâu và nặng nề của mày
Rồi, sau đó, như tao, chịu đựng và chết không than van)

Như con chó sói đã sống hết đời ngang dọc một thời của mình, Mai Bá Trác lặng lẽ ra đi, không kêu than một tiếng.

Sơn Dương.

MAI BÁ TRÁC 

1 comment:

  1. Cám ơn anh Sơn Dương từ Úc Châu đã viết bài và gửi đến nhân ngày đầu năm 1.1.2026, bài viết rất hay và lôi cuốn như phim trinh thám, tuy việc đã xảy ra hơn 50 năm, nhưng anh vẫn có đầy đủ chi tiết, chắc hẵn in sâu vào tâm thức. Cám ơn tất cả và chúc sức khỏe, bình an và all the best for 2026.

    ReplyDelete