Thursday, June 13, 2019

SỐNG TỐT SẼ GẶP TỐT !

Câu chuyện liên quan đến một người lính trẻ, tuổi 20. Biệt Kích (Hồn Ma Biên Giới) VNCH nằm lại tại khu rừng Hoà Bắc. Hoà Liên. Đà Nẵng.
Chiều hôm qua Thu Nguyen nhận cuộc điện thoại của mấy anh em một thời làm nghĩa vụ tại Campuchia . Mời đến nhà một người bạn thời lính, có chút tiệc nhỏ...
Cách vài tháng là anh em chúng tôi gặp mặt một lần, quan tâm đến cuộc sống hiện tại ... và hay nhắc về lại một thời tuổi trẻ, của những ngày tháng gian khổ ở Campuchia ...
Nhưng lần này thì khác, tôi được nghe một câu chuyện thật tuyệt vời ! Của bạn Hồng. Lính trinh sát . Đại đội C21 . E38 . Bạn kể lại câu chuyện: Hôm ngày 30/4/ 2019
Trưa đó bạn đang nằm ngủ, nghe người em chạy vào đánh thức và nói: Anh Hồng ơi ! Có nhiều người lạ, sang trọng lắm ... đến tìm anh! Mắt nhắm mắt mở, bạn Hồng chưa hiểu gì hết ... Sau khi ra gặp số người đi tìm Hồng . Hồng chưa kịp hỏi những vị khách , thì đã có một người lớn nhất trong số người đó thật sang trọng với giọng nói Sài Gòn: Xin lỗi em ! Cho anh hỏi em có phải là Hồng không ? Hồng trả lời dạ đúng rồi anh ! Các anh tìm em có việc gì không ? Người đàn ông đó nói tiếp : Anh có hỏi thăm nơi địa phương ở đây, có người nói em có biết một người lính VNCH chết trước ngày giải phóng Đà Nẵng 29/3/1975 khoảng mấy ngày, có đúng thật vậy không ? Giây phút này Hồng rất hồi họp , và hỏi lại mấy vị khách : các anh có biết tên của người lính đó không ? Cho em biết ! Nếu không sẽ nhầm ! Người đàn ông trả lời : người lính đó tên Hậu! Lúc này toàn thân Hồng như thấy rung lên ... vừa vui ! và hồi họp ...
Bạn Hồng lúc này không chần chừ, cầm tay người đàn ông đó và cùng mấy người , chạy ra phía sau nhà, nơi đó là khu đồi có những nghĩa trang. Hồng nói anh Hậu nằm đây ! Lúc này Hồng đứng trước ngôi mộ vái lên những câu : anh Hậu ơi ! Anh thật linh ...
Mấy tháng gần đây. Hồng thường hay ra mộ vái với anh:
Nếu anh có linh thiêng, thì tìm gia đình của anh, đưa anh về với gia đình. Còn nơi đây cũng gần bị giải toả ...!
Riêng Hồng thì từ trước đến nay cũng đã đi tìm gia đình anh Hậu đến tận Đồng Tháp, theo như những giấy tờ Hồng đã tìm thấy trong cái ví của anh, cái ngày bị bắn chết bên hồ nước. Những lần đi tìm của Hồng đều vô âm tính ...
Sau khi gia đình anh Hậu đã biết đúng đó là ngôi mộ thật của người em út trong gia đình. Trong những ngày gần đó họ đã quay về lại khách sạn Đà Nẵng, chờ Hồng đi coi ngày giờ tốt ...! Rồi mới xin hốt cốt anh Hậu .
Ngày hốt cốt cho anh Hậu . Cũng chính một mình tay Hồng hốt cốt cho anh ... !
Đêm hôm qua Hồng kể lại câu chuyện cho anh em tôi nghe ... Cũng giống như Hồng đã kể cái ngày chết của anh Hậu cho những người thân của anh Hậu nghe.
Hồng kể : Vào ngày 27 / 3 / 1975 là còn hai ngày nữa giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Hồng khi đó mới 9 tuổi. Hôm đó Hồng đi chăn trâu, khi ngang qua hồ nước con trâu nó hất Hồng ngã xuống bên cái hồ nước, khi Hồng té xuống cạnh bên hồ thấy phát hiện có một cái xác chết của một người lính VNCH vẫn còn máu ! Hồng kéo anh Hậu lên nhưng đã chết . Sau đó Hồng quay về kể lại cho người thân nghe ... Người thân mới nói Hồng ra xem trong túi quần anh lính đó thử có cái gì không ...! Khi Hồng ra tìm trong túi quần anh Hậu , thấy có một cái ví , mở ra thấy có tiền và giấy tờ. Hồng đã mang tất cả những thứ đó về nhà .
Đến 7 năm sau... Lúc này Hồng đã đúng 16 tuổi . Cũng hôm đó đi chăn trâu, lại thêm một lần nữa khi đi ngang qua cái hồ nước ... Con trâu cũng đã làm cho Hồng ngã trúng ngay chỗ mà Hồng đã bị ngã cách đó 7 năm. Sau khi ngã xuống bên bờ hồ , trước mặt Hồng đã nổi lên một cái đầu lâu ... lần này Hồng trở về nhà, với cái tuổi 16 ý thức hơn cái tuổi những năm mới 9 tuổi ! Hồng mang câu chuyên ra kể lại cho người mẹ ruột .
Hồng kể: Mẹ ơi ! Hôm qua khi đi chăn trâu, cũng đi ngang qua chỗ lần trước... Con đã thấy cái đầu lâu ...! Chắc là của anh Hậu ! Ngày mai con sẽ hốt cốt ảnh và sẽ chôn cho tử tế ! Ngày xưa con mới 9 tuổi chưa biết gì... Ngày nay 16 tuổi cho con làm trách nhiệm này... Mẹ Hồng nghe xong bà đã đồng ý ! Và khuyên con mấy điều, ra hốt cốt nhớ đừng để cho ai biết ... Nếu không sẽ bị liên luỵ tới gia đình !
Ngày hôm sau Hồng ra lại chỗ cái hồ nước, mang theo những tấm vải mà mẹ Hồng đã chuẩn bị trước . Suốt ngày hôm đó Hồng mò hết quanh cả cái hồ nơi anh Hậu nằm ở đó đã nhiều năm ... Sau khi hốt xong, Hồng kiểm tra hết tất cả những số xương cốt , nhưng vẫn sợ còn thiếu... Hồng mới vái tiếp: anh Hậu ơi ! Nếu anh có linh thiêng thì cho em thêm mấy tiếng nữa tìm cho đủ cốt anh ! Chứ đừng để sau này khi em chôn rồi, anh về đòi hỏi em là không được ! Nhưng thật sự Hồng đã làm tốt hết trách nhiệm của mình !
Ngày hôm đó Hồng cũng làm cái lễ cúng cơm và chôn anh Hậu trên một cái đồi phía sau nhà, nơi đó cũng có những ngôi mộ của gia đình Hồng.
Nghe câu chuyện xong, tôi cảm thấy yêu quý bạn mình nhiều hơn !!!
Và Hồng lại kể tiếp: Anh Hậu này linh lắm các bạn tôi ơi ! Hồng kể : Những năm tháng ở Campuchia thật sự có những lần quá kiệt sức... Của thằng lính trinh sát ! Gian khổ và cái chết không còn tin tưởng nổi nữa ... Hồng nói: Nhớ lại ngày hôm đó vì quá mệt mỏi Hồng có nghĩ đến anh Hậu ! Và đã khấn nguyện ... với anh Hậu: Nếu anh có linh thiêng thì hãy giúp em .
Hoàn cảnh của em, cũng giống như hoàn cảnh của anh ngày xưa là người lính ! Xin anh có linh ... Thì cho em bị thương cái chân để trở về với gia đình . Nhưng đừng để cho em phải cụt chân như những đồng đội của em. Nếu ngày trở về mà không có đôi chân, thì làm sao sống nổi trên miền đất quê nghèo ấy !
Cách đó mấy ngày sau trên đường hành quân Hồng đã bị mảnh mìn cắt qua gót chân. Đúng thật là khó tin ! Một khi đã trúng mìn thì chỉ có cụt giò và mất mạng ! Nhưng bạn tôi đã được may mắn như những lời đã cầu nguyện ...
Nói đến đây tôi nhìn thấy mặt bạn đã hiện lên nhiều cảm xúc ... Hồng nói: Tôi đã chán cái đất này lâu rồi! Đã nhiều lần bỏ đi nhưng rồi lại trở về .
Từ khi biết vợ có nhân tình, đến ngày ly hôn với vợ, tất cả tài sản và nhà cửa để lại hết cho con ... Hồng mang theo một tỷ đồng VN ! Rong chơi khắp mọi miền... Một hôm đang nằm ngủ , mơ thấy có một người mặt đồ lính VNCH đến nói với Hồng: Em hãy nghe anh ! Nên trở về lại quê ... Nơi đó sẽ có cơ hội trong tương lai ...
Khi thức dậy Hồng biết người trong mơ đó chính anh Hậu !
Lần đó Hồng trở về quê, nhưng không về lại ngôi nhà cũ Hồng đi thẳng lên khu đất đã khai hoang . Ở đây bạn chăn nuôi và làm rẩy ... nghe nói đến đây khu này bị giải toả ... Tất cả những diện tích đất bạn Hồng có là : 4000 mét vuông , Cộng thêm mấy hecta đất ruộng nữa !
Nãy giờ nói về bạn Hồng quên nói về chuyện hài cốt của anh Hậu !
Hôm đưa hài cốt anh Hậu về Sài Gòn. Hồng bận việc nên không đi cùng với mọi người .
Cách một ngày sau khi lo việc ở Đà Nẵng xong . Hồng vô liền Sài Gòn. Gia đình anh Hậu xin được thiêu hài cốt gởi vào nhà thờ, vì anh Hậu trước đây có đạo thiên chúa.
Hồng cũng xin phép lại với mọi người. Trước đây Hồng chôn anh Hậu và đã xin gởi về chùa ! Nay nếu gởi về nhà thờ thì hãy cho Hồng xin keo anh Hậu có đồng ý được không. Sau khi Hồng dùng những đồng tiền xin keo, Những đồng tiền đã đúng theo ý của gia đình anh Hậu ! Mọi sự đâu đã vào đó ! Những ngày còn lại Hồng được gia đình anh Hậu xem Hồng như một người con út trong gia đình .
Mấy ngày đó Hồng được nhiều tình yêu thương của gia đình anh Hậu từ Pháp và Mỹ gọi về luôn quan tâm hoàn cảnh cuộc sống của Hồng !!!
Đêm qua sau khi chia tay về , Thu Nguyen có hỏi Hồng một câu: Vì sau số người đó biết Hồng tìm đến? Hồng trả lời: Trong số những người đó , có một anh lính Biệt Kích VNCH đã thoát chết ngay lần anh Hậu bị bắn. Anh đã dẫn gia đình anh Hậu đi tìm hiểu mấy ngày hôm đó ! Và có nghe nói có một anh sĩ quan biệt kích nữa, cũng bị bắn cùng ngày với anh Hậu . nằm quanh khu vực đó .
Tới đây sẽ có một số người ở Mỹ trở về nhờ Hồng đi tìm xác của anh sỹ quan bị chết cùng ngày với anh Hậu .
Đang trong lúc nghe bạn Hồng kể, thì có người bạn nói đùa vô: Vậy từ nay Hồng được phúc dầy từ phương xa rồi ... Tôi cũng nói lên những câu ... Nhưng Hồng đã thừa làm chủ câu nói của tôi : Cuộc sống này tình cảm con người mới trên hết !!! Tất cả chỉ là của tạm ... Hãy sống tốt với tình cảm của người đã khuất ... Để ngày sau ta được mỉm cười.

FB Thu Nguyễn 

Monday, June 10, 2019

Chiến Tranh và Tình Cha - Những Chuyện Thương Tâm

Chuyện Thương Tâm
Nên đọc... Chiến tranh và tình cha.
Chiến tranh kết thúc, người lính chuẩn bị trở về nhà ở San Francisco. Trước khi máy bay cất cánh, anh gọi điện thoại về cho gia đình: Thưa cha mẹ, con sắp về nhà, con muốn xin phép cha mẹ giúp một chuyện...
Nhận tin con trai trở về, cha mẹ anh hết sức vui mừng, người cha hào hứng nói: Con trai , con nói đi. Chuyện gì chúng ta cũng sẵn sàng giúp con.
Con có một người bạn rất tốt, anh ấy đã cứu mạng con trên chiến trường. Nếu không có anh ấy chắc con không thể trở về với bố mẹ. Vậy anh ấy có thể ở cùng chúng ta được chứ ạ ?

Tất nhiên là được rồi con trai. Bạn con thật là tốt bụng. Ta rất biết ơn những gì cậu ấy đã làm cho con và cả gia đình ta.
Cậu con nói tiếp:
" Con muốn bố mẹ biết một điều, bạn con bị thương khá nặng trên chiến trường. Anh ấy bị mất một chân và một tay. Bạn con không có nơi nào khác để đi, và con muốn anh ta về ở chung với chúng ta ".

Người cha ấp úng:
"Thật tội nghiệp cho bạn con. Nhưng có lẽ chúng ta sẽ tìm cách giúp anh ta có một nơi nào khác để sống ".

"Không, thưa bố mẹ, con muốn anh ta ở với chúng ta".
Người cha ôn tồn nói:
"Con trai à! Con không biết con đang đòi hỏi điều gì đâu. Một người khuyết tật như vậy sẽ là gánh nặng rất lớn đối với chúng ta. Chúng ta có cuộc sống riêng của mình và không thể để cho một chuyện như thế này làm đảo lộn hết cả. Cha rất cảm kích bạn con nhưng ta không thể hứa sẽ chăm sóc cho anh ta được. Cách tốt nhất là ta sẽ giúp anh bạn ấy tìm một công việc để tự mưu sinh".

Cậu con trai im lặng cúp điện thoại. Sau đó anh không gọi lại một cuộc nào nữa, họ tìm kiếm anh khắp nơi, nhưng vẫn bặt vô âm tín...
Một thời gian sau, cha mẹ anh nhận được điện thoại của cảnh sát San Francisco thông báo rằng con trai họ đã rơi từ một toà nhà cao tầng xuống và chết. Cảnh sát cho hay rất có thể đây là vụ tự tử.
Cha mẹ anh đau đớn đi nhận diện thi thể con trai. Họ nhận ra anh, người con trai yêu quý của mình, chết lặng không thốt nên lời khi nhìn thấy một điều mà trước đó họ không hề hay biết: con trai của họ chỉ có một cánh tay và một chân.
Những giọt nước mắt ân hận rơi xuống, nhưng tất cả đã quá muộn màng...
*
Thực ra, con người chúng ta thường sống khá ích kỷ. Ta có thể dành tình yêu thương vô hạn cho người thân của mình, nhưng luôn cần đến điều kiện để quý mến một người lạ. Ta cũng thường chỉ yêu mến những người tài năng, xinh đẹp, bảnh bao... và có xu hướng tránh xa những người nghèo khổ, yếu đuối, tàn tật...vì sợ phiền phức. Giá như mỗi người chúng ta đều có thể dành sự bao dung và nhân ái cho những người lạ như chính người thân của mình, thì thế giới này sẽ tốt đẹp biết nhường nào...
Với lòng bao dung nhân ái, chúng ta đủ sức mài mòn hòn đá vô tri thành viên ngọc lung linh toả sáng, đủ sức biến điều khó khăn trở nên dễ dàng, đủ sức biến một người tầm thường hay tàn khuyết thành vĩ nhân. Bởi vì, tất cả mọi phép màu trên thế gian này đều bắt nguồn từ trái tim, đừng bao giờ để cuộc đời bạn phải hối hận vì sự ích kỷ, vị tư. 

ST on FB 

Tuesday, June 4, 2019

KỂ CHUYỆN VỀ LÍNH BIỆT KÍCH

Hồi mặt trận An Lộc, báo chí có nói tới hai câu thơ của cô giáo Pha viết trên bức tường của một ngôi trường bị bom đạn đã làm đổ sụp:

An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân
 

Tôi tuy cũng là quân nhân đối diện với cái chết thường xuyên, nhưng với những Binh chủng oai hùng như Biệt Động Quân, Nhảy Dù hoặc Thủy Quân LụcChiến thì lòng rất ngưỡng mộ; còn về Biệt Cách Dù thì cũng từng nghe thấy báo chí đề cập tới Liên Đoàn 81, nhưng cũng không biết đơn vị này thuộc lực lượng nào và do ai chỉ huy, đóng quân ở đâu v.v… Hồi qua núi Sơn Trà, Đà Nẵng đi đổ toán thì chỉ biết tại đây có trại Lôi Hổ, họ ăn mặc quần áo kaki Nam Định của lính chính quy Bắc Việt, trang bị AK báng xếp, những toán viên mặt lạnh như tiền, ngồi im lìm không hề gợi chuyện với ai, kể cả với phi hành đoàn. Rồi cách đây gần 10 năm, khi tôi đang đổ lại miếng cement đằng trước nhà, thì thấy có ba người trạc bằng tuổi tôi, mà lại đi với mấy bà vợ, nhòm nhòm ngó ngó như muốn tìm nhà để mướn, nên tôi chào hỏi. Họ cũng đứng lại nói dăm ba câu chuyện và tỏ thực là dân H.O. mới qua, giờ sống chung trong căn Apartment chật chội quá, muốn đi thuê căn nhà cho thoải mái hơn. Tôi hỏi các anh bị tù bao lâu. Họ đáp có người 20 năm, có người 30 năm. Tôi ngạc nhiên hỏi vặn, vậy chớ các anh cấp cao lắm hay sao mà ở lâu vậy? Họ nói là bị ở lâu là vì bị bắt ngoài Bắc hồi năm sáu mấy mà đến gần cuối thập niên 90 mới ra. Sau cùng tôi mới vỡ lẽ là họ thuộc toán nhảy ra Bắc. Vì công việc cũng đang cần người, nên tôi có nhận một anh đi làm chung. Nghe nói về quá khứ của anh, người bạn tôi cũng kể là hồi xưa anh ta là Hạ Sĩ Quan đi học lớp Truyền Tin, trong đó có một Nữ Quân Nhân, sau này cô ấy nhảy toán ra Bắc và bị bắt ở ngoài đó. Anh Bạn Biệt Kích trầm ngâm rồi nói rằng: - Không có đâu anh. Nhiều người thuộc lực lượng khác, có khi họ chỉ nhảy trong nội địa hoặc qua bên kia biên giới Miên, Lào. Những toán nhảy Bắc tôi biết tên hết vì bị nhốt chung với nhau khá lâu, mà khi huấn luyện ở căn cứ Long Thành thì cũng biết nhau nữa. Nữ toán viên không có người nào đâu, và nếu có cũng không có ai bị bắt. Sau này tôi đọc bài viết của ông Phan Lạc Phúc, có đề cập tới Người tù Kiệt Xuất Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện cũng nhảy toán ra Bắc rồi bị bắt. Tôi tìm hiểu qua anh bạn tôi, nhưng anh chỉ là một toán viên thường nên kiến thức tổng thể về đơn vị không có nhiều, vì thế tôi vẫn còn mù mờ về lính Biệt Kích. Cho đến hôm nay, nghe anh Lôi Hổ Nguyễn Hữu Thọ kể lại, tôi mới biết nhiều về lực lượng này.
Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mang một cái tên rất hiền lành là Sở Khai Thác Địa Hình do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, nhưng đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tổng Thống hoặc ông Ngô Đình Nhu. Trong cơ cấu tổ chức của sở thì có phòng E hay phòng 45 đặc trách nhiệm vụ tình báo bên kia vĩ tuyến 17 thường được gọi là Sở Bắc. Toán ra Bắc thường là ba bốn người, nhưng cũng có những toán một người về qua ngả chính thức từ Lào, Miên hay Pháp… dưới vỏ bọc là Việt Kiều.
Đầu năm 63, Sở Khai Thác đổi thành Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt với hai Liên Đoàn 77 và 31. Sở Bắc vẫn duy trì và phối hợp với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Chính biến 1-11-63 xẩy ra và Đại Tá Tung bị giết chết vì không chịu phản bội Tổng Thống Diệm. Sau đó Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt bị chuyển ra đóng ở Nha Trang. Sở Bắc được tách ra khỏi Lực Lượng Đặc Biệt lấy tên là Sở Khai Thác đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu. Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Hổ và các Cố Vấn Mỹ của MACV. Cùng thời gian này Sở Liên Lạc được thành lập với nhiệm vụ hoạt động xâm nhập ngoại biên trên đất Lào và Campuchia. Các toán Thám Sát được gọi là Lôi Hổ (Thundering Tiger). Chỉ Huy Trưởng của Sở Liên Lạc là Đại Tá Hồ Tiêu và đơn vị đóng gần sân banh Quân Đội cạnh Bộ Tổng Tham Mưu. Tóm lại, Sở Bắc (Sở Khai Thác) là toán Biệt Kích nhảy ra ngoài Bắc, Sở Liên Lạc là toán Lôi Hổ nhảy qua Lào và Miên. Cả hai Sở này thuộc Nha Kỹ Thuật, còn Biệt Kích Delta cũng là toán Lực Lượng Đặc Biệt, nhưng nhảy trong nội địa. Đến năm 1971 thì sự yểm trợ của Mỹ giảm bớt rất nhiều nên Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Nha Kỹ Thuật gom lại thành những sở sau đây: - Sở Liên Lạc - Sở Không Yểm (liên quan đến Không Quân) - Sở Phòng Vệ Duyên Hải (Hải Quân và Người Nhái) - Sở Tâm Lý Chiến (Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam và Đài Gươm Thiêng Ái Quốc) - Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành) - Sở Công Tác gồm Đoàn 11 và 68 đã có từ trước và khi Lực Lượng Đặc Biệt giải tán thì lập thêm Đoàn 71, 72 và 75. Bây giờ tôi xin nói về Biệt Cách Dù: - Trước Mậu Thân 1968 Lực Lượng Đặc Biệt có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. Tiểu Đoàn này hoàn toàn là lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của Việt cộng thì thường gọi Không Quân đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa. Hồi Mậu Thân, vị Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Cách 81 là Thiếu Tá Quế đã tử trận. Sau 1970, Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, các căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt dọc biên giới đổi thành Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại. Các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Nha Kỹ Thuật , hoặc Biệt Động Quân còn thì về Biệt Cách Dù hết. Lúc này Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của Lực Lượng Đặc Biệt từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu Lực Lượng Đặc Biệt còn bên kia là Biệt Cách Dù. Như vậy Lực Lượng Đặc Biệt chính là tiền thân của Biệt Cách Dù. Bây giờ trở lại với các Chiến Đoàn Xung Kích của Lôi Hổ: - Chiến Đoàn 1 thường nhảy qua vùng thượng Lào, từ Đông Hà theo đường số 9, bay ngang Khe Sanh mà vượt biên giới. Nơi đây đồi núi chập chùng nên khi đã nhảy xuống đất rồi thì di chuyển rất khó khăn. Các máy bay H34 cổ lỗ sĩ của Phi Đoàn 219 lại tỏ ra rất hữu hiệu, nhất là khi bốc hay đổ toán. Nó có động cơ nổ 10 máy nên chịu đạn "chì" hơn loại UH bán phản lực sau này. Thường thì sau khi đã có Sĩ Quan Tiền Không Sát đi chụp hình bãi đáp ngày hôm trước bằng phi cơ quan sát, cả toán Lôi Hổ, Chỉ Huy Trưởng và Trưởng Phi cơ đã vào phòng thuyết trình Hành Quân, và khi đầy đủ Trực Thăng Võ Trang hay khu trục hộ tống, thì 3 chiếc H34 sẽ vào vùng, họ bay rất cao và chiếc chở toán sẽ cúp ga, làm một cú lá vàng rơi xoắn ốc cho đến gần mặt đất mới tăng ga để đáp. Làm Auto Rotation như thế thì mới tránh khỏi bị bắn rơi, những tay Pilot phải rất giỏi và kinh nghiệm đầy mình. Đổ quân vùng này thì ngoài sự đối đầu với cán binh Bắc Việt, còn đôi khi phải chơi luôn cả phe Pathet Lào nữa. Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào Kingbee Bùi Tá Khánh
Chuyện về cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào nhằm cắt đứt đường mòn HCM đã được nhiều người viết ra. Ðầu tiên là nhà văn Phạm Huấn với quyển "Trận Hạ Lào năm 1971", rồi nhà văn nhảy Dù Lê Ðình Châu, Đại Úy Đại Đội Trưởng Đại Đội công vụ nằm vòng đai bảo vệ cho Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù trên đồi 31 cũng ra mắt quyển "Ðôi mắt người Tù Binh", và anh Nguyễn Văn Long, Thiếu Úy sĩ quan phụ tá ban 2 Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù vẫn thường xuyên viết về Hạ Lào cho Ðặc San Nhảy Dù ở Úc Châu.
Ở đây, tôi chỉ ghi lại câu chuyện như là một mẩu hồi ức dưới mắt nhìn của một người lính Không Quân. Tôi là một hoa tiêu phục vụ trong Phi Đoàn 219, thuộc Không Ðoàn 51, Sư Ðoàn I Không Quân trú đóng tại Ðà Nẵng. Phi Đoàn 219 là hậu thân của Biệt Đoàn 83 với nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh thầm lặng trong bóng tối nhằm gây rối, phá hoại hậu phương của địch. Vì thế tất cả phi cơ của Phi Đoàn 219 chỉ sơn toàn bệt màu đen và xanh lá cây xẫm bên trên phần bụng trắng và không mang phù hiệu hay cờ gì cả ngoài số serial number mà thôi. Là một Phi Đoàn chỉ thi hành những phi vụ đặc biệt ngoài lãnh thổ và ngoài những cuộc hành quân bình thường, nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, nằm trong kế hoạch được mệnh danh là Việt Nam hoá chiến tranh, một cuộc hành quân quan trọng lần đầu tiên hoàn toàn do Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đảm nhiệm với sự yểm trợ tối thiểu của không lực Hoa Kỳ trong những ngày đầu với những loại trực thăng khổng lồ chuyên chở những xe cơ giới hạng nặng như xe ủi đất, lô cốt tiền chế, đại pháo 105 và 155 ly để Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà dọn bãi thiết lập những căn cứ hoả lực đầu cầu trên đất Lào. Vì thế nên Quân Ðoàn I đã phải trưng dụng tất cả những đơn vị Không Quân trực thuộc Sư Ðoàn I Không Quân trong đó có Phi Đoàn 219. Như vậy Phi Đoàn chúng tôi, ngoài những phi vụ đặc biệt thường lệ, lại phải đảm nhiệm thêm việc yểm trợ cho Sư Ðoàn Dù, một trong 3 lực lượng nòng cốt trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Mỗi ngày Phi Đoàn 219 tăng phái một Phi Đội gồm 2 hoặc 3 chiếc H34 nằm trực chiến tại Khe Sanh, nơi đặt bản doanh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Ðoàn Dù. Từ đây chúng tôi xuất phát những phi vụ tiếp tế lương thực, đạn dược cho các căn cứ hoả lực 29, 30, 31 và các đơn vị hành quân lục soát bên ngoài căn cứ. Những phi vụ này thường là rất "hot", nhưng "hot" nhất vẫn là những phi vụ tải thương cho binh sĩ Nhảy Dù khi có đụng độ với quân cộng sản Bắc Việt. Và chuyện này xảy ra như cơm bữa hàng ngày nên chúng tôi coi như pha. Chúng tôi cứ luân phiên nhau mỗi Phi Đội trực chiến cho Sư Ðoàn Dù 4 ngày rồi trở về Ðà Nẵng tiếp tục những phi vụ thường nhật.
Hôm nay đến phiên trực của chúng tôi. Phi Đội gồm có 2 phi cơ do anh Chung Tử Bửu lead, tôi copilot và Nguyễn Văn Em là mê vô, chiếc thứ hai tôi chỉ nhớ hoa tiêu chánh là anh Yên. Chúng tôi vào Phi Đoàn nhận lệnh vào lúc 8 giờ sáng rồi chia tay nhau về nhà sửa soạn hành trang, hẹn gặp nhau lúc 10 giờ ngoài phi đạo 219.
Ðúng giờ hẹn, chúng tôi ra phi cơ làm tiền phi, check nhớt, xăng, load những cơ phận sửa chữa dự trữ, đồ nghề và anh em kỹ thuật 219 rồi cất cánh, trực chỉ Ðông Hà, Quảng Trị. Khoảng quá trưa thì chúng tôi ra đến Khe Sanh. Vừa đến nơi, không màng ăn trưa vì nóng lòng muốn cứu đồng đội nên chúng tôi quyết định phải vào ngay đồi 31 chứ không thể đợi lâu hơn được. Trong khi anh Bửu vào trình diện với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn Dù để đặt kế hoạch cho chuyến bay thì tôi và mê vô Em đi check lại máy bay. Xăng vẫn còn đầy bình trước, dư sức bay không cần phải refuel. Một lát sau từ phòng briefing ra, anh Bửu vắn tắt cho anh em biết về phi vụ quyết tử này. Chuyến vào chúng ta sẽ chở theo một Tiểu Đội Tác Chiến Điện Tử Dù cùng với 18 chiếc máy "sensor" vào tăng phái cho căn cứ 31 dùng để phát giác đặc công địch, chuyến ra sẽ rước Phi Hành Đoàn anh Nguyễn Thanh Giang về. Mười lăm phút trước khi lên vùng, pháo binh Dù sẽ bắn dọn đường mở một hành lang dọc theo quốc lộ 9, dập vào những địa điểm được ghi nhận có phòng không địch vì tình hình lúc này rất gây cấn, địch tập trung lên đến cấp Tiểu Đoàn phòng không gồm đủ loại từ 37 mm, 12 ly 7 và lần đầu tiên còn nghe có cả SA7 nữa. Về không trợ thì có 2 chiếc Gunship của Phi Đoàn 213 do Trung Úy Thục bay trước mở đường. Trước đó trong lúc briefing, anh Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với anh Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng anh Giang đã dùng chiến thuật "lá vàng rơi", từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù. Phi Hành Đoàn vô sự, chỉ có copilot là Võ Văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, mê vô Trần Hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa. Rút kinh nghiệm, hôm nay anh Bửu bay Rase Motte sát ngọn cây theo hướng Ðông-Tây đi vào. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9 tôi còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh Dù bắn rất chính xác và hiệu quả. Gần đến Landing Zone, anh Bửu đổi hướng lấy cấp Ðông Nam-Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây, tôi đã thấy chiếc Gunship của Trung Úy Thục bay vòng lại, cùng với tiếng anh la lên trong máy "Bửu coi chừng phòng không ở hướng Tây". Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn đồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích quấy phá của cộng quân Bắc Việt. Không nao núng, anh Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng một tràng đạn phòng không, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, mê vô Em la lên khẩn cấp trong máy "Đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy". Cùng lúc anh Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc wing "Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa" trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là đạn trúng vào bình xăng phụ đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên phi cơ không bắt cháy như phi cơ Đại Úy An ở Bù Ðốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản xạ tôi cùng anh Bửu nhanh tay tắt gió, xăng, điện rồi nhảy ra khỏi phi cơ. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của Đại Đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước. Tôi còn tiếc chiếc xách tay quần áo nên phóng vào trong phi cơ để lấy. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngửa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy "sensor" vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chỉ kịp vớ lấy cái xách tay rồi phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù "trên đây nè Thiếu Úy, tụi tôi bắn yểm trợ cho". Tôi lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc chóc trên đầu. Lên đến nơi tôi thở như bò rống. Không quân mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971. Vừa ngồi nghỉ mệt, tôi vừa nhìn xuống bãi tải thương nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc địch điều chỉnh tác xạ, một quả đạn đạn súng cối rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy khói đen mù mịt cả một góc trời. Tôi nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã gần gụi với mình lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn. Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, chúng tôi men theo giao thông hào lần về đến Ban Chỉ Huy Lữ Ðoàn 3 Dù. Gặp lại Phi Hành Đoàn anh Giang, On, Sơn anh em chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi rối rít. Chúng tôi được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Ðoàn 3. Ðầu tiên là Đại Tá Thọ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Ðoàn 3, Thiếu Tá Ðức Trưởng Ban 3, Đại Úy Trụ phụ tá Ban 3, Đại Úy Nghĩa sĩ quan liên lạc Không Quân, Trung Úy Chính sĩ quan Không Trợ Dù, Thiếu Úy Long phụ tá Ban 2. Về phía Pháo Binh thì có Trung Tá Châu Tiểu Đoàn Trưởng và Đại Úy Thương Trưởng Ban 3 thuộc Tiểu Đoàn 3 pháo binh Dù. Ðại Tá Thọ mừng anh em "mới đến" mỗi người một điếu Havatampa và một ly Hennessy để lấy lại tinh thần. Tôi ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy "ông" Nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống rượu Mỹ như máy! Quả các anh ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng chì thật. Buổi chiều vùng rừng núi trời tối thật nhanh, chúng tôi dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Ðoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tôi được ngủ chung một hầm với anh Nguyễn Quốc Trụ, một sĩ quan trẻ xuất thân khoá 20 trường Võ Bị Ðà Lạt. Anh cũng là anh ruột của Trung Úy Nguyễn Hải Hoàn, một hoa tiêu chánh trong Phi Đoàn tôi. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ 31 với ý định đánh bật căn cứ này ra khỏi sinh lộ của chúng. Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì địch quân luôn di động dàn phòng không của chúng khiến Không Quân Việt Nam và Hoa Kỳ không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom vài khu vực khả nghi chung quanh đồi 31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B52 rải thảm ì ầm xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào rừng núi trùng điệp. Ngược lại, quân bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù. Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, chúng tôi nhận được lệnh và khởi sự di chuyển ra các hầm cứu thương sát bãi đáp chờ đến trưa đích thân Phi Đoàn với 3 chiếc H34 sẽ vào tải thương binh Dù đồng thời bốc 2 Phi Hành Đoàn ra. Tôi và anh Bửu cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Ðến trưa khi chúng tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận "tiền pháo" dồn dập lên đồi 31. Qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, tôi thây rõ hai chiếc xe tăng T-54 của cộng quân tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc chung quanh nhắm đỉnh đồi chúng tôi mà nhả đạn. Những tia lửa từ nòng súng phụt ra, tôi và anh Bửu thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhở câu mà anh em trong Phi Đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ!". Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào xe tăng địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc T54. Nhưng để trả giá cho hành động dũng cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả Pháo Đội Trưởng Nguyễn Văn Ðương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Chúng tôi vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 xe tăng khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi chúng tôi mà bắn! Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình địch, và lại phá hủy thêm 2 xe tăng nữa. Trong tiếng bom đạn tơi bời, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 đang vần vũ trên cao như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì địch tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, tôi và anh Bửu tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm. Về phía Không Quân, tôi, anh Bửu, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và bị dẫn giải ra Bắc Việt chung với tất cả tù binh khác. Không thấy anh Giang và Em đâu. Chúng tôi bắt đầu thăm hỏi các Sĩ Quan và binh sĩ Dù trên đường đi. Cuối cùng tôi gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các anh ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần mê vô Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn Em gục chết ở bên đường. Thế là 219 ghi thêm vào quân sử của mình một thiệt hại 2 Phi Hành Đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên đồi. Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 Phi Hành Đoàn đó là Bửu, On, Khánh và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không? Viết để nhớ đến tất cả những chiến sĩ anh hùng đã thành danh hay vô danh, vẫn còn sống hay đã hy sinh cho quê hương đất nước. Sau 33 năm ít ra tên tuổi các anh vẫn còn được nhắc đến một lần.  
Bùi Tá Khánh

Monday, June 3, 2019

Old Pictures - Old buddies

 John Myers and Hòa Phạm at Wounded Veterans (Pendleton) Oceanside California

 John, Hiệp, Recon Team and The General 

USMC Colonel Hayes and Hoa Pham Pendleton, California

 Team Idaho CCN


 SOG Re-union Las Vegas

 Recon Team CCN

Special Operations Association









Sunday, June 2, 2019

"The Billionaire Green Beret " - John Walton

Former SOG soldier, John Walton, was the son of Sam Walton, who founded the Wal-Mart discount store chain that became one of the world’s biggest companies. Unlike his father, Walton didn’t pursue a business career. He attended the College of Wooster in Wooster, Ohio, dropping out after two years. He then joined the Army and served in Vietnam. But his duties were far from ‘regular.’ He was a Special Forces soldier in a unit code-named the Studies and Observations Group, or SOG (cover for "special operations group"), a secret, elite military unit that often operated in Laos, Cambodia and North Vietnam in what had been called America’s “Secret War.” Walton joined the unit in 1968, right after the Tet offensive. He became a member of a SOG “Hatchet Force” which consisted of small cross border teams generally made up with two or three Americans and up to five Indigenous troops; sometimes South Vietnamese, sometimes Montagnards and sometimes Chinese Brue, but always very capable, loyal and fierce warriors who knew how to operate in the jungles with stealth and outstanding bravery. On almost every mission there was a firefight. A particularly horrifying battle occurred in the A Shau Valley in Laos while he was assigned to ST (strike team) Louisiana. The team mission was to find a fellow Green Beret who had been separated from his team when it was forced to evacuate after running into a large enemy force. John was the commando team's No. 2 as well as its medic. In the low light of early morning, ST Louisiana was dropped from Sikorsky H-34 helicopters onto a ridge near the DMZ and was attacked by North Vietnamese army soldiers. In a memoir titled Across the Fence: The Secret War in Vietnam, fellow Green Beret John Stryker Meyer gives an account of that day: "Four of the NVA's rounds struck the tail gunner, wounding him severely. As Walton swung his CAR-15 [a submachine gun version of the M-16] toward the enemy soldier ... [his] rounds hit the NVA soldier and drove him back in the jungle." The account goes on to say that Walton's commanding officer, Wilbur "Pete" Boggs, called in a napalm strike that landed yards away from John. Soon the six-man team was surrounded. One was dead and three were wounded. John tended to casualties, including Boggs, who was knocked semiconscious by shrapnel, and Tom Cunningham, who was badly hurt with a knee that was blown out and started hemorrhaging very, very severely. Walton applied a tourniquet to his leg to stop the severe hemorrhaging. With Boggs down, Walton was now in charge. He picked up the radio and called in two choppers for extraction. As the first Sikorsky H-34 (King Bee) dropped in and lifted off with some of the men, the NVA intensified its assault. A second chopper was needed to get all the men out, but the landing zone was too hot to make it in. Walton and his team thought they were doomed, but suddenly the first chopper came back down, even though their added weight might make it too heavy to take off again. With the enemy advancing into the clearing, firing at the helicopter, and Walton trying to keep Cunningham alive, the King Bee took off and barely made it over the treetops. Credit: Together We Served
 
 John Walton RIP of the Wal Mart Walton's
Extracted from Page 119, On The Ground, by John Stryker Meyer & John E. Peters
A personal side to John Walton

The headlines announcing the tragic death of John Walton focused on the personal fortune he had amassed as the second of three sons of American icon and entrepreneurial pioneer Sam Walton, the founder of Wal-Mart.
Since 1968, the John Walton I knew was first and foremost a family man ---- when his father was dying of cancer, he flew around the world searching for remedies to the disease that ultimately claimed Sam Walton's life.
He was an intelligent free spirit who went his own way in life ---- becoming a Green Beret medic and succeeding in the businesses he started while extolling the virtues of charter schools.
Yet, the man who died Monday when his ultra-light aircraft crashed in Grand Teton National Park, was the same, humble, caring man I first met 37 years ago in Phu Bai, South Vietnam.
In the early days of our friendship, we exchanged family notes: my dad was a milkman, his dad "had a five-and-dime store" in Bentonville, Ark., and we had strong, no-nonsense moms.
In May 1968, we were young Green Berets who had just entered the secret war that was fought during the Vietnam War. We were stationed at FOB 1 in Phu Bai as members of small reconnaissance teams that ran top-secret missions across the fence into Laos, Cambodia and North Vietnam.
In August of '68, on one such mission, Walton's six-man recon team was surrounded and overrun by enemy soldiers. The attack was so fierce, the team leader called an airstrike on his team to break the enemy attack. That strike killed one team member, wounded the team leader and severed the right leg of the Green Beret radio operator Tom Cunningham Jr., of Durham, N.H. Another team member was wounded four times by AK-47 gunfire by an enemy soldier whom Walton killed.
A South Vietnamese helicopter pilot, Capt. Thinh Dinh, landed and picked up the five living members of the team while under heavy gunfire and barely extracted the team from its sure-death firefight with hundreds of enemy soldiers.
As '68 rolled along, our friendship grew as we became strong competitors in Scrabble, poker and impromptu football games.
He also shared his dreams: he said that if he lived, he would return to the U.S., buy a motorcycle and drive across country. Then, he'd get his pilot license, find a job and explore Mexico and Central and South America.
He pursued those dreams with vigor, eventually becoming a crop-duster for six months a year, while driving his VW bus south, into and through Mexico. During those years, I'd called his mom for John's latest phone number while my mom would get calls from John. By the '80s, as Wal-Mart became a force to be reckoned with, John went his own way, building several success businesses while living with his wife, Christy, on a trimaran before they bought a sailing captain's historic house in National City. They also had a beach in North County.
John Walton also cared about the environment. When we met for a recent breakfast in Oceanside, he drove a small Toyota hybrid.
And, he remembered his comrades from Vietnam. In 2003, he flew his executive jet to Fargo, N.D., to pick up now-Col. Thinh and family to fly them to a reunion in Las Vegas that honored the Vietnamese pilots who operated in the secret war.
That's the kind of guy he was ---- one who cared more about others than himself.
J. Stryker Meyer can be reached at (760) 901-4089.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
The following is from
SOG...THE Secret War's of America's Commandoes in Vietnam by  John Plaster; however it contains a number of errors including putting John on the wrong team. The article by J. Stryker Meyer above contains the correct information.

On 3 August 1968 a reconstituted RT Idaho, led by One-Zero Wilbur Boggs, inserted into the Ashau Valley about ten miles from where the old RT Idaho had vanished on 20 May. Boggs' One-One, Specialist Four John Walton, was an accomplished poker player, friendly, intelligent and a talented medic capable of surgery. Idaho's One-Two was a new man, Private First Class Tom Cunningham.
Not long after insertion, swarms of NVA descended on RT Idaho, and soon One-Zero Boggs was seriously wounded, two 'Yards' were dead and the team immobile, hopelessly encircled by NVA so close Walton could see smoke from their cigarettes. With the team about to be overrun, young Walton did the only he could and called an air strike practically on top of RT Idaho, which hit friend and foe alike.
The NVA pulled back. It took every bit of Walton's medical skill to keep his wounded teammates alive, though Tom Cunninham would lose a leg. That anybody made it out is attributable to Walton's courage, cool head and medical ability. He was awarded the Sliver Star.
Back home in Arkansas, the young Green Beret's enterprising father was transforming his drugstore chain into the world's largest family owned retail system--Wal Mart --

A time to be born, a time to die;
A time to plant, a time to reap;
A time to kill, a time to heal;
A time to laugh, a time to weep.
A time of love, a time of hate;
A time of war, a time of peace;
A time for peace, I swear it's not too late.


Lonnie Heidtke
CE Black Widow 474
C/101st AHB 68-69
Chippewa Falls, WI

Thursday, May 9, 2019

Nhảy Dây Thụy Sĩ - Cách cột ghế Thụy Sĩ


Here are some pictures and instructions from an army FM manual on how to tie a "Swiss Seat" this was used for rapelling or extraction purposes if a team didn't have a Hanson, Stabo or Mcguire Rig.
image  
Step 1: Tying a Swiss Seat:
Grasp the 9-foot sling rope at the midpoint (center) of its length, and double the rope.

image  
Step 2: Tying a Swiss Seat:
Place the midpoint (center) of the length of the sling rope on the hip opposite the brake hand (the brake hand is the strong hand).

image  
Step 3: Tying a Swiss Seat:
Bring the sling rope around the waist above the hip bone.

image  
Step 4: Tying a Swiss Seat:
Once the sling rope runs around the back of the waist, hold both ends of the rope out in front of you.

image  
Step 5: Tying a Swiss Seat:
Tie a double overhand knot over the navel by first crossing the right end of the sling rope over the left end.

image  
Step 6: Tying a Swiss Seat:
Continue by bringing the left end of the rope (which is in your right hand) up and over the right end of the rope.

image  
Step 7: Tying a Swiss Seat:
Now take the right end of the rope (which is in your left hand) and tuck it under and then bring it up over the left end of the rope.

image  
Step 8: Tying a Swiss Seat:
You should now have a completed double overhand knot.

image  
Step 9: Tying a Swiss Seat:
Let the two free ends of the sling rope fall to the ground in front.

image  
Step 10: Tying a Swiss Seat:
Bring the two free ends of the sling rope down between the legs and up over the buttocks. Ensure that the two free ends do not cross.

image  
Step 11: Tying a Swiss Seat:
Pass the ends of the ropes over the rope that is tied around the waist at the two points above the center of the two rear seat pockets.

image  
Step 12: Tying a Swiss Seat:
Grab the free end of the rope that is on the left side of the body with the left hand, and the free end of the rope that is on the right side of the body with the right hand. Squat down and simultaneously pull on both running ends of the ropes and stand up. This will tighten the seat. Take the two running ends of the rope down and back over the waist rope from the inside. Bring the running ends back under the ropes that are going across the buttocks.

image  
Step 13: Tying a Swiss Seat:
Bring the two running ends to the hip opposite the brake hand.

image  
Step 14: Tying a Swiss Seat:
Tie a square knot with the two running ends by crossing the left end over the right. Then tuck the left end under the right and bring it back up and over.

image  
Step 15: Tying a Swiss Seat:
Now take the right running end and cross it over the left running end. Then tuck the right end under the left and bring it back up and over and tighten. You should now have a square knot.

image  
Step 16: Tying a Swiss Seat:
Now tie two overhand knots with the running ends, one on each side of the square knot. This will help secure your square knot and is done by passing the running end under the rope that is tied around your waist and then passing it over and then back down between itself and the rope around the waist.

image  
Step 17: Tying a Swiss Seat:
Place any excess rope in the trouser pocket near the square knot. Congratulations you have just tied a Swiss Seat! Now for the snaplink placement....

image  
Step 18: Tying a Swiss Seat:
Hold the snaplink with the gate facing towards you and the hinged end down.

image  
Step 19: Tying a Swiss Seat:
Place the hooked end of the snaplink against the navel, then place the end of the snaplink through the single rope that is around the waist and the two ropes forming the double-hand knot.

image  
Step 20: Tying a Swiss Seat:
Now rotate the snaplink a half turn so that the gate is facing up and will open away from the body. That's it! You are now ready to hook up to a rope and go rappelling!!!

Tuesday, May 7, 2019

CHUYẾN CÔNG TÁC CUỐI CÙNG. 25 tháng 3 ,1975

Chỉ trong vòng mấy ngày mà Đà Nẵng gần như tràn ngập dân di tản từ Huế, Quảng Trị cùng với các Binh Chủng TQLC, Bộ-Binh thuộc các Sư Đoàn 1,2,3 và các đơn vị Địa Phương Quân của các Tỉnh vừa mới mất làm cho Thành Phố gần như hỗn loạn, tin tức chiến sự càng lúc càng thêm bất lợi cho phe ta.
Lệnh cấm quân đã được ban hành sau khi Ban Mê Thuột và Phước Long thất thủ, tôi cảm thấy lo lắng không biết gia đình có còn ở Di Linh hay không vì nghe nói Cộng quân đang đánh ở nơi đó, tôi mò về Đà Nẵng để hỏi thăm tin tức từ người chị dâu. Khi qua bến phà thì bị mấy chàng Quân Cảnh chận lại, tôi đã xuống nước năn nỉ mà vẫn bị khước từ cho nên đành phải tự động xé rào đi qua, mặc cho mấy QC kêu trời và bây giờ đến lượt mấy ổng năn nỉ xin đừng để mấy "Ổng" thấy là chết tụi tôi, tới nước này thì ai thấy cũng chả là vấn đề gì quan trọng vì tin tức của gia đình quan trọng hơn, sorry nghe mấy chú.Sau khi biết gia đình đang trên đường di tản về Sài Gòn tôi cảm thấy an tâm hơn, tiện thể ghé quán Thiên Nga làm một ly Cà Phê với mấy đứa bạn đang chờ ở đó.
Vừa về tới đơn vị cũng là lúc có lệnh qua Bộ Chỉ Huy Sở Công Tác họp và nhận kế hoạch của Bộ Tổng Tham Mưu-Nha Kỹ Thuật về việc tái chiếm Huế. Hôm đó tất cả Sĩ Quan của các Đoàn 11,71,72 đều có mặt. Kế hoạch là các Toán của SCT sẽ có nhiệm vụ nhảy xuống những nơi còn phe ta cầm cự giúp họ đánh trở lại, gom những Quân Nhân của các đơn vị còn kẹt lại, tái trang bị và giúp họ có tinh thần để chiếm lại Cố Đô Huế.
Buổi họp được đặt dưới sự chủ tọa của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng SCT,Đ/Tá Ngô Xuân Nghị cho biết Bộ TTM sẽ yểm trợ, tiếp tế lương thực, vũ khí, đạn dược, phương tiện di chuyển đầy đủ vì trong cuộc họp có nhiều câu hỏi được đưa ra về những vấn đề đó. Sau lời kêu gọi của Đ/Tá CHT /SCT mọi người đều đồng lòng chấp nhận hy sinh để thi hành công tác, không một người từ chối, thật không hổ danh Lôi Hổ.
26/3
Đoàn Công Tác 72 đang có 3 Toán hoạt động tại khu vực Đồng Đen nơi có Liên Tỉnh Lộ 544 và 545 chạy từ dãy Trường Sơn về đến khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng. Đoạn cuối của 2 Liên Tỉnh Lộ này đều nối với Xã Hòa Thanh - Quận Hòa Vang, cuối hai con lộ này có một Đại Đội Địa Phương Quân trấn giữ, 3 Toán của Đoàn 72 đang Công Tác Thám Sát con lộ 545 gần đèo Mũi Trâu.
Bộ Chỉ Huy Sở Công Tác cho biết tin tình báo từ Quân Đoàn 1 nhận được là Cộng Sản Bắc Việt sẽ một mặt trà trộn vào đám dân di tản theo Quốc Lộ 1 tiến vào, một mặt sẽ xử dụng LTL 545 để vận chuyển vũ khí, chiến xa, lương thực và chuyển quân theo con đường này để đánh Đà Nẵng.
Ba toán đang hoạt động trong vùng đã gần đến ngày triệt xuất. Chỉ còn một ngày nữa thôi ,tôi được Chỉ Huy Trưởng gọi lên, tưởng đâu sửa soạn ra Huế chứ giờ này gọi lên là biết sửa soạn đi thôi.
-Chú mày chuẩn bị nắm Toán vào thay cho mấy Toán ngày mai triệt xuất. Tụi nó đi học Dù, phá hoại cho nên thiếu người, đi giùm anh một chuyến, nếu có gì thì sẽ bốc ra ngay, 2 toán kia Th/Uý Quách Tố Long và Ch/Uý Nguyễn Trọng Vui sẽ dẫn đi.
-Chuyện nhỏ, đi đâu cũng đi hết, hồi nào tới giờ chưa biết từ chối mà? (mà từ chối sao được hổng đi chỗ này thì cũng phải đi chỗ khác thôi)
Ba toán được lệnh trang bị mìn chống chiến xa, mỗi em một quả để chặn đường tiến quân của CS Bắc Việt. Tôi còn ráng mang theo một dây lựu đạn Mini để lỡ có gì....thì chơi luôn, Lôi Hổ chết bỏ.
Cùng đi chuyến này còn có Th/Uý Thể và Tr/Sĩ Trọng sẽ nằm ở đỉnh Đồng Đen làm Relate cho 3 Toán. Chúng tôi đã chuẩn bị để sẵn sàng xâm nhập khi có phương tiện từ phía Không Quân. Trong lúc đó tình trạng của Đà Nẵng càng xáo trộn hơn vì lính tráng và dân chúng tràn ngập phố phường, đã có nghe những vụ cướp bóc xảy ra đây đó. Bên Sơn Trà cũng thấy nhộn nhịp hơn thường lệ , mọi người hối hả, xe cộ cũng tấp nập khác thường. Sở Công Tác cũng đã phổ biến lệnh di tản thân nhân và gia đình, được loan tải cho mọi quân nhân thuộc SCT và các Đoàn nội đêm hôm nay 26/3.
Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn Dù và Tiếp Liệu cũng đang lên tàu chuyến chót ở bên Non Nước. Sư Đoàn TQLC từ phía Huế, Quảng Trị đã rút về để thay thế cho Sư Đoàn Dù trám vào những trọng điểm trước đây do SĐ Dù trách nhiệm. Kế hoạch tái chiếm Huế dường như đã bãi bỏ vì không còn lực lượng nào kháng cự với CSBV. Quảng Trị, Quảng Tín cũng đã "di tản chiến thuật". Riêng trong đơn vị Đoàn Công Tác 72 thì vẫn bình thường, không thay đổi gì mấy ,mọi sinh hoạt vẫn như không có gì xảy ra, chỉ có 3 toán đang chờ đợi.... xâm nhập và 3 toán đang mong chờ....triệt xuất.
Dường như linh tính mách bảo tôi rằng lần này sẽ không bình thường như những lần trước. Trong lòng có chút bất an, với tâm trạng buồn buồn, lo lắng xen lẫn những suy nghĩ mông lung , tôi muốn dzọt về Đà Nẵng để coi tình hình ra sao? Và cũng phải báo cho chị dâu của tôi hay về việc di tản, gia đình chị cũng khá đông, khoảng hơn chục mạng chứ đâu có ít, mà làm sao bây giờ, đang chờ phương tiện để vô vùng mà???
Cũng may là hôm đó không có phương tiện vì họ phải giúp bên TQLC chuyển quân và tiếp tế cho các đơn vị bạn cho nên tôi cũng vù về Đà Nẵng để cho chị hay đặng sửa soạn mà đi. Khi gặp chị rồi mới biết là chị cùng các cháu có vào phi trường để kiếm phương tiện nhưng vì sợ phải chen chúc mà có hai đứa nhỏ thì khó mà lên được máy bay cho nên chị đã bỏ cuộc trở về nhà và chị nói rằng để mai chị vô lại phi trường kiếm phương tiện khác vì chồng chị là Không Quân (bị bắt ở chiến trường Hạ Lào năm 71) cho nên chị có nhiều cơ hội hơn, thôi vậy cũng được.
27/3
Cả 3 toán lại tiếp tục ứng chiến. Buổi sáng chầm chậm trôi qua, ngồi trong câu lạc bộ uống cà phê tán gẫu, tôi ngồi im lặng quan sát các bàn kế bên. Có tên đang kể chuyện mà kèm theo nhiều tiếng "Đan Mạch" liên tục làm tôi bật cười, hình như tay nào cũng vậy nói chuyện phải có tiếng đệm đi kèm mới rôm rả. Ngồi lâu cũng chán , tôi thả bộ qua Ban 3 chơi nhưng đi chưa tới đã nghe tiếng Trực Thăng xa xa giống như trong rừng mà (lúc) chờ nghe tiếng máy bay để triệt xuất vậy. Tôi đứng chờ thêm chút nữa để coi có phải là họ đến đón mình không? Đúng là hợp đoàn đến đón chúng tôi . Lúc nào cũng 5 chiếc nếu thả 3 toán, vì lần này thả chỗ tương đối an toàn cho nên không có L19 hướng dẫn. Họ đang lượn một vòng để đáp xuống bãi đáp của đơn vị nằm trên lưng chừng núi. Các toán cũng lục tục ra khỏi CLB về chỗ để "trang bị". Lần này thả điểm an toàn rồi lội bộ tới mục tiêu cho nên không cần thuyết trình như những lần thả xuống vùng có hỏa lực của địch. Xe chở chúng tôi lên sân bay của Đoàn , mỗi toán leo lên một chiếc như vẫn thường đi, hai chiếc còn lại là Gun Ship đi theo yểm trợ, tôi thầm nghĩ:
“Trong khi các đơn vị khác còn không có phương tiện di chuyển hoặc yểm trợ mà đơn vị mình lại có 5 chiếc để thả toán thì đâu có gì đáng ngại khi phải xâm nhập đang lúc dầu sôi lửa bỏng này?? Có gì thì họ cũng bốc mình ra ngay thôi.”
Giờ này cũng đã gần 12 giờ trưa, trời nắng nóng như thiêu như đốt, cái nóng của miền Trung thật khó chịu. Mỗi đứa còn phải vác một cái ba lô nặng chịch, cộng thêm một dây đeo lưng có 8 bình đông nước, đạn, lựu đạn, mìn chống chiến xa cộng cây súng nữa là khoảng 1/2 tạ, khiếp thiệt. Lúc leo lên máy bay rồi cũng vẫn phải đeo đầy đủ trên lưng, cho nên ngồi để chân ra ngoài là thoải mái nhất và cũng để nhảy xuống dễ dàng.
Từng chiếc bốc lên khỏi mặt đất rồi từ từ lao xuống phía biển trước mặt lấy trớn cất lên cao hơn cho đến một một độ cao nào đó mới "bình phi". Tiếng động cơ nhỏ hơn một chút , tiếng chém gió của cánh quạt cũng nhẹ hơn khi đã lấy đủ cao độ. Gió bên ngoài thổi mạnh , hai cái ống quần vỗ liên hồi vô chân làm cho hai chân hơi tê tê. "Hợp đoàn" đang bay về hướng Tây Bắc, phía dưói chỉ còn thấy biển xanh xanh và xa dần, bỏ lại thành phố cùng với những làng mạc dưới kia. Khi bay ngang qua Quốc Lộ 1 nhìn xuống vẫn thấy hàng xe từ phía đèo Hải Vân nối đuôi nhau hướng về Đà Nẵng.
Không nhớ lúc đó tôi đang nghĩ gì mà đến khi nhìn xuống thì đã thấy núi rừng phía dưói rồi. Mọi vật bên dưới giống như vẫn đứng yên một chỗ. Bầu trời quang đãng không một bóng mây. Thường thì mây che khuất đỉnh núi nhưng hôm nay thì đã thấy nó ở đằng xa , từ từ rõ dần, lớn dần. Tự nhiên trong lòng cảm thấy một nỗi buồn khó tả, cái buồn phải xa thành phố, xa cô hàng cà phê, không biết những ngày sắp đến sẽ ra sao?
Máy bay từ từ giảm tốc độ. Chiếc số 1 chuẩn bị đáp xuống. Toán tôi trên chiếc số 2 cho nên còn phải lượn thêm một vòng nữa mới đáp được vì trên đỉnh núi bãi đáp chỉ vừa cho một chiếc thôi. Các toán triệt xuất cũng phải chờ từng chiếc một để đổi tua. Chúng tôi chỉ kịp bắt tay các bạn của toán vừa leo lên chứ không nói gì với nhau được cả vì tiếng ồn của trực thăng và những thằng mới xuống thì bị ù tai cho nên có nói cũng như không. Khi cả 5 chiếc bay đi rồi tôi càng thấy buồn hơn. Cái im lặng của núi cao cùng với cái nóng càng làm tôi khó chịu, chỉ muốn tìm chỗ nghỉ ngơi cho mát mẻ một chút.
Ở trên đỉnh núi này có một Trung Đội thuộc Tiểu Đoàn 14 TQLC đang trấn giữ. Được biết Thiếu Úy Hương là Trung Đội trưởng cùng với 21 anh em khác đang đóng ở đây thay thế cho một Trung Đội thuộc Sư Đoàn Dù đã rút về phía Nam. Chúng tôi đã làm quen với nhau và được Th/Uý H. cho biết tình hình tại đây rất yên tĩnh. Có một lính của anh đã tự hủy hoại một bàn chân của mình, nhưng không được tản thương và đang bị "giam" trong cái chuồng làm bằng kẽm gai. Anh ta đã quay mặt đi, né tránh ánh nhìn của tôi về phía góc sân nắng chang chang-nơi anh bị giam giữ, tôi bỗng thấy thật chạnh lòng!
Chúng tôi đã trao đổi về tình hình chiến sự, về những đơn vị bạn đóng trong vùng này và điểm đóng "chốt" của trung đội. Cả 3 toán dự tính đêm nay sẽ xuất phát. Chúng tôi trở về hầm của toán Truyền Tin và báo cho Th/Uý Thể là các toán dự định tối nay sẽ lên đường.
Chiều xuống, mây đang từ từ kéo đến, không khí trở nên dịu mát hơn nhờ những cơn gió trên đỉnh núi cao này. Tiếng pháo của "Vua chiến trường" 175 ly từ phía ngoài cầu Nam Ô bắn vào phía trong nghe rõ mồn một. Tiếng nổ của nó vang dội cả núi rừng. Họ đang bắn vô phía Bắc của vị trí chúng tôi đang ở, có lẽ khu vực đường mòn dọc theo sông Cu Đê , tôi vì đã đi khu vực này mấy lần rồi nên tôi có thể định hướng được dễ dàng.
Trời bắt đầu tối dần. Bữa cơm chiều đã xong. Núi rừng xa xa mờ đi vì mây mù nhiều hơn, dưới chân núi chỉ còn một màu xanh đen. Chúng tôi đang ngồi im lặng. Toán của tôi và toán của Ch/Uý Vui đã chuẩn bị xong rồi, chờ cho toán của Th/Uý Long nữa là đi thôi. Tôi định đến chỗ Th/Uý H. để cho biết chúng tôi sẽ xuống núi ngay bây giờ, Th/Uý hãy cho chốt biết tụi tôi sẽ đi ngang để tránh ngộ nhận, nhưng Th/Uý H.cũng vừa đi tới phía tôi hỏi nhỏ rằng:
- Bên các anh có lệnh gì chưa?
Tôi hỏi:
- Lệnh gì?
- Thì lệnh rút ra ngoài .?.?
- Làm sao có chuyện đó cha nội?
- Bên tụi này có lệnh rồi đó.!.
- Để tui hỏi lại coi sao.?
Tôi đến gặp Th/Uý Thể để hỏi xem ở bên đơn vị mình có lệnh lạc gì không, sao bên bạn đã có lệnh rút mà mình chẳng nghe gì cả?? Sau khi liên lạc với Bộ Chỉ Huy Th/Uý Thể nói là tình hình không có gì nguy hiểm, lệnh của Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng là nhiệm vụ vẫn phải thi hành và 3 toán phải đi ngay trong đêm nay. Tôi và 2 toán Trưởng kia bàn với nhau là nếu thật sự họ có lệnh rút thì tại sao mình phải đi? Chẳng lẽ mình đi rồi bỏ lại hai ông "rờ le"ở lại đây một mình? Thôi thì mình nằm lại đêm nay để sáng mai xem tình hình như thế nào rồi sẽ tính.
Đêm đó, tôi và các bạn không ngủ được thẳng giấc, vì từ trong phía đèo Mũi Trâu chạy ngược về dãy Trường Sơn, chúng tôi thấy nhiều ánh đèn xe ẩn hiện càng lúc càng nhiều thêm. Có lẽ chúng nó đang chuyển quân về phía mình. Chúng tôi lại liên lạc với BCH Đoàn và cũng như lần trước câu trả lời là phải đi để ngăn chặn tụi nó. Trời ơi! Bộ giỡn sao chớ? Nó đi xe còn mình lội bộ làm sao mà kịp, ban ngày còn đi không kịp nói gì ban đêm hả mấy ông Thần?!?!?! Những ánh đèn vẫn thấp thoáng xa xa rồi lại khuất sau những ngọn núi, và cứ liên tục suốt đêm như thế. Thôi thì đành chờ sáng chớ biết sao bây giờ!!?
28/3
Sương đêm ướt lạnh, chúng tôi ngồi bàn chuyện phải làm gì nếu TQLC rút. Mọi người đều đồng ý là nếu họ rút thì mình cũng phải lui binh chứ không thể nào làm nhiệm vụ được. Nhâm nhi ly cà phê buổi sáng mà chẳng ngon lành chút nào. Mình cũng lo là nếu cãi lệnh thì sẽ bị phạt, còn nếu tuân lệnh thì chắc chắn mất xác. Chọn đi các con, dĩ nhiên là thà bị phạt chứ chẳng dại gì mà đem thân làm vật tế thần. Bây giờ chờ sáng rồi tính sau.
Trời đã sáng rồi, cái chốt của quân bạn dưới chân núi đã leo lên tới đỉnh. Chắc chắn họ có lệnh rút thiệt rồi. Còn mình thì sao? Đã tới giờ liên lạc mà chẳng nghe ai nói năng gì cả, thế là thế nào?? Có gì thì cũng cho tụi này biết để mà lo liệu chớ? Ngồi chờ tiếp!!!! Phe bạn đã đi gài lựu đạn chung quanh hàng rào phòng thủ. Họ dở lều và chuẩn bị quân trang cá nhân sẵn sàng triệt thoái, có lẽ cơm nước xong là họ sẽ cuốn gói. Thời gian trôi qua nặng nề ,nắng bắt đầu nóng lên mặc dù bao quanh lưng chừng núi là một lớp mây trắng xóa không thấy phía dưới, giống như mình đang ở trên cảnh tiên vậy. Vẫn không có lệnh lạc tin tức gì từ BCH, chán thiệt!
Trung Đội TQLC sau khi cơm nước xong thì cũng đã trưa rồi, Th/U H.đến từ giã và hỏi tụi tôi rằng:
-Mấy anh tính sao, tụi này dzọt trước nghe. Nếu cùng đi thì sẽ có xe đón ở ngoài đồn Địa Phương Quân. Họ sẽ chờ đến 4 giờ sáng. Từ đây ra đó cũng khá xa cho nên nếu mình đi giờ này thì sẽ dư thời gian một chút. Nếu mình đi ra trễ thì không còn phương tiện để về Đà Nẵng đâu ,tùy mấy anh thôi.
Tôi nói:
-Nếu mấy anh muốn đi trước thì cứ đi. Tụi này còn chờ lệnh của đơn vị nữa, lỡ có gì thì phiền lắm. Thôi, các bạn đi đi, tụi này ở lại.
Họ đi rồi cả bọn mới thấy buồn. Có một số anh em cằn nhằn là tại sao họ đi ra mà mình còn ở đây làm gì chứ? Thật là khó xử! Thôi cứ chờ xem sao.
Chờ hoài mà không thấy động tịnh gì hết, Th/U Thể có báo cho đơn vị biết tình hình là như vậy đó nhưng nghe trả lời là: “Kệ họ, các anh cứ ở đó chờ lệnh”. Tôi cũng đinh ninh là nếu có biến chuyển ở đơn vị thì thế nào cũng có Trực Thăng vào bốc ra ngay thôi. Đà Nẵng còn biết bao nhiêu Lính của các đơn vị làm sao mà mất dễ dàng như vậy được?
Chiều xuống, lôi gạo sấy ra làm tiếp một bụng nhưng trong lòng cứ lo lo, không hiểu tại sao cho đến giờ này không nghe nói năng gì hết, điệu này chắc mình phải tự lo thôi. Quả thật chẳng sai, Th/U Thể chạy ra mặt mày nhăn như khỉ ăn ớt:
-Mất liên lạc rồi chúng mày ơi, làm sao bây giờ?
-Thì còn chờ gì nữa mà không dzọt cho lẹ nếu còn muốn thấy mặt vợ con- cả đám nhao nhao lên.
-Mầy thấy chưa , đ.má mày, tao đã đoán trước là thế nào cũng bị bỏ lại mà hồi nãy mày còn cãi tao..!!
-Đ.m. tại lúc đó còn liên lạc được thì tao nghĩ là nếu thả được thì bốc cũng đâu có gì là khó đâu?
-Thôi đi đi mấy ông, còn ở đó mà cãi lộn, xuống tới dưới kia cho tụi bay cãi tiếp.-Ch/U Vui lầu bầu
Phải đi ngay, trời đã chạng vạng tối rồi làm sao ra tới ngoài kia trước 4 giờ sáng mới kịp xe phe bạn đang chờ. Chúng tôi thu dọn thật nhanh và cuốn gói đi liền, không biết có kịp không?
Từ trên đỉnh đổ xuống cũng khá nhanh. Tay nào dẫn đường thật không hổ danh Lôi Hổ, chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ mà đã bắt kịp quân bạn ở giữa đường. Có lẽ họ bị mất phương hướng cho nên không đi nhanh bằng mình. Thôi thì đi theo tụi tôi, bảo đảm không ra đúng giờ không lấy tiền mà...Phe bạn tỏ vẻ thán phục cái khả năng lội rừng của phe ta hết mình, vì trước khi họ đi thì chúng tôi có cho tần số liên lạc của nhau. Đến khi chúng tôi rời Đồng Đen cũng đã báo cho họ hay rằng đã bắt đầu đi xuống. Lúc đó là khoảng 6 giờ chiều mà cho đến lúc bắt kịp thì chỉ mới hơn 9 giờ thôi.
Lúc nãy dọc đường có gặp anh bạn "đau chân" được 2 đồng đội dìu đi. Tụi này cũng mang nặng quá cho nên không giúp gì được. Thôi ráng đi theo sau vậy. Tụi tôi chỉ cách tìm đường mà đi để khỏi bị lạc bằng những dấu vết tụi tôi để lại trên đường. Với số người đông như vậy thì đi sau sẽ thấy giống như đường mòn, cứ thế mà đi.
Lúc này đã gần nữa đêm rồi, bọn VC đã bắt đầu pháo liên tục từ hướng mục tiêu của chúng tôi định tới để đặt mìn. Chúng nó đang bắn về phía Đà Nẵng. Không biết chỗ nào bị trúng đạn pháo mà thấy cháy sáng cả một vùng, hướng đó thì có lẽ là Phi Trường?
Từ hồi "nhổ neo" khoảng chừng hơn 1/2 tiếng, chúng tôi có nghe tiếng trực thăng bay ở phía ngoài Xã Hòa Thanh. Nó cứ bay vòng vòng lâu lắm rồi lại bay đi đâu không rõ. Sau đó lại nghe tiếng của nó cũng lòng vòng một lúc rồi lại bay đi. Rồi bây giờ nó lại xuất hiện ở phía ngoài cách chúng tôi khá xa. Lúc này hình như bên Đà Nẵng cũng bị cháy ở đâu đó. Chúng tôi cũng đã ra gần khỏi khu rừng, có lẽ khoảng 1 tiếng nữa thôi là tới bìa rừng. Trời đêm nay có trăng nhưng cứ bị mây che khuất, thỉnh thoảng cũng sáng được một lát rồi lại tối, cho nên đi ra ngoài cũng không khó lắm.
Cuối cùng rồi cũng ra khỏi khu rừng, bây giờ đã là gần 2 giờ sáng rồi. Chiếc trực thăng hồi nãy cũng đã đi đâu mất. Cứ nghe tiếng nó bay phành phạch là trong lòng cảm thấy nôn nao. Không khí bây giờ thật là buồn và vắng lặng, mây đã ở lại sau lưng chúng tôi để nhường chỗ cho vầng trăng sáng trên bầu trời đêm nay, chúng tôi ngồi nghỉ lấy sức, tôi ngồi bên cạnh Ch/U Vui:
-Hồi nãy mày có nghe tiếng Trục Thăng không? Vui hỏi nhỏ nhỏ
-Có chứ sao không- Tôi trả lời.
-Anh tao chờ bọn mình ra từ chiều tới lúc nãy luôn mà mình ra không kịp, ảnh cũng không còn xăng để bay cho nên đã đi đâu rồi không biết? (Anh của Vui là Hoa Tiêu thuộc Phi Đoàn 233)
-Sao mầy không nói tao nghe? Tôi hỏi.
-Nói làm gì? Vui trả lời.
-Sao mầy biết là anh của mầy bay chiếc đó? Tôi thắc mắc?
-Tao liên lạc với ổng chứ sao...Trước khi tao đi, ảnh có cho tao số riêng để khi cần thiết thì kêu.
-Bây giờ ổng đi đâu rồi? Tôi hỏi.
-Ổng nói đi kiếm xăng mà phi trường cháy mẹ nó rồi làm sao có xăng mà đổ. Nãy tao có gọi mà không nghe trả lời, không biết có chuyện gì không? Tao cũng đang lo đây.!.!
-Hèn chi, cứ thấy nó bay lòng vòng hoài mà tao đâu có biết.!!!
-Đừng cho ai biết chuyện này, chừng nào tao liên lạc được rồi hẵn hay.
-Ừ, ngu sao nói???
Hai thằng cùng cười tủm tỉm.
Ra được đến ngoài này tự nhiên thấy khỏe re. Chẳng còn bao lâu nữa là ra đến đồn Địa Phương Quân rồi. Ngoài đó có xe của TQLC chờ sẵn cho nên mọi ngưòi đều cảm thấy thoải mái ngồi nghỉ, uống nước, phì phèo thuốc lá, nói chuyện hoặc ngả lưng một chút cho đỡ mệt.
Chúng tôi ngồi nghỉ được khoảng 15, 20 phút gì đó thì Th/U H. bên bạn đề nghị là TQLC sẽ đi trước, Lôi Hổ sẽ đi sau, vì đến đây là khu rừng chồi cho nên đi cũng dễ dàng. Vả lại Lôi Hổ đi quá nhanh thành ra đi sau cũng được. Trời sáng trăng nên cũng dễ thấy đường đi không có gì đáng ngại cả, chúng tôi nói:"các bạn đi trước đi, một lát nữa chúng tôi sẽ đi sau.”
Một lúc không lâu sau đó, bỗng nhiên cả bọn chúng tôi bật cả dậy vì một tiếng nổ dữ dội ở phía trước, là hướng của TQLC đang di chuyển. Mọi người ngơ ngác vì không biết chuyện gì xảy ra: bị phục kích? Mìn hay lựu đạn?..Không nghe một tiếng súng nào có nghĩa là mìn hay lựu đạn gì đó chứ không phải bị phục kích. Chúng tôi đang định chạy về hướng đó thì Truyền Tin cho biết là họ có gọi cho hay là bị nổ lựu đạn và họ nhờ mình lên để giúp cho một người bị thương nặng được "siêu thoát" . Vì có lẽ không cứu được, cả bọn chúng tôi cảm thấy khó chịu vì (về) lời đề nghị đó, đâu có ai mà làm như vậy được? Chúng tôi cùng tiến lên phía quân bạn đang gặp nạn. Và thay vì làm theo lời yêu cầu thì chúng tôi lại kêu 3 người cứu thương của 3 toán băng bó, chích thuốc cầm máu cho anh bạn bị thương. Sau đó mọi người chuẩn bị để đi tiếp, phía bạn lại xin đi trước, chúng tôi đồng ý. Họ tiếp tục đi bỏ lại người bạn bị thương. Chúng tôi có dự định sẽ dìu anh bạn này đi nhưng anh ta từ chối, anh ta nói :"Tôi không muốn làm phiền các anh, các anh cứ đi đi".
Khi chúng tôi bắt đầu lên đường được một quãng không xa thì nghe một tràng súng M16 nổ vang ở phía sau. Một vài người vội chạy ngược trở lại thì thấy anh bạn ấy đã tự sát. Tội nghiệp quá! Mọi ngưòi buồn bã tiếp tục đi vì thời gian cũng gấp rút lắm rồi.
Tôi cảm thấy hơi mệt và buồn ngủ quá, ráng chút nữa hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Tôi đang nghĩ đến cảnh về tới Đà Nẵng làm một tô bún bò ở Ngã Năm rồi chạy về Thiên Nga làm một ly cà phê sữa đá, se một điếu rồi tới đâu thì tới. Nhưng trong lúc đang mơ mộng thì lại một tiếng nổ nữa cũng là tiếng của lựu đạn ở đằng trước làm cho bún bò, cà phê, thuốc lá bay mất mẹ nó hết trơn, đ.. mẹ , ở đâu mà lựu đạn nhiều dzậy cà?
-Ê, Vui , coi lại coi chỗ nầy là chỗ nào mà nổ lung tung dzậy ?
-Hình như chỗ này có một Tr/Đội TQLC đóng ở đây mà? Vui trả lời- có lẽ lúc họ rút lui họ quên gỡ lựu đạn hay là cố tình gài để chặn đường cũng không chừng?
Tôi nói:
-Nếu vậy thì mình phải đổi hướng ngay lập tức ,trở ngược lại, bẻ 90 độ, nếu không mình sẽ còn bị dài dài, xuống đường 544 rồi đi ra theo đường lộ.
Tôi còn đang nói thì lại một tràng M16 nổ dòn tan. Đằng trước nhốn nháo, có mấy anh bạn chạy ngược trở lại cho biết là lần này Th/U H. bị thương cùng với 2 người nữa, 1 người đã tự sát. Tụi tôi lại phải tới giúp băng bó và lần này dìu cả 2 đi theo luôn. Vì 2 người này bị thương không nặng lắm; Th/U H. bị thương đầu và tay, anh bạn mang máy thì bị thương ở trán, máu chảy khá nhiều cho nên phải băng kín cả mắt không thấy đường đi.
29/3
Chúng tôi kiểm lại quân số 2 bên: phe ta còn đủ 20, phe bạn chỉ còn 17 (3 người đi phía sau,2 người tự sát) và bắt đầu đi ngược lại chỗ dừng chân hồi nãy rồi mới "chặt góc" trái hướng về Liên Tỉnh Lộ 544 mà đi. Đường đi hơi khó khăn hơn lúc nãy. Tuy là rừng chồi nhưng gai góc hơi nhiều làm cho tốc độ chậm hẵn lại, vì vậy chuyện ra được phía ngoài chắc cũng hơi lâu và chẳng biết xe phía bạn có chờ hay không?
Mãi đến hơn 7 giờ sáng mới mò xuống tới con đường 544. Nói là Liên Tỉnh Lộ chứ có ai xử dụng đâu, nó chỉ là con đường đất như ở thôn quê vậy thôi. Trước khi ra đường chúng tôi cũng quan sát hết chung quanh. Bên kia đường là ruộng lúa ,phía bên phải thì ruộng chạy thẳng đến bìa rừng cũng khá xa ,thẳng trước mặt bên kia ruộng là Xã Hòa Thanh, bên trái là đường dọc theo chân đồi dẫn ra ngoài đồn Địa Phương Quân. Giờ này xe của TQLC đã đi mất lâu rồi, tuy nhiên ra được đến chỗ này thì cũng cảm thấy không còn mỏi mệt nữ. Cảnh đồng quê thật yên tĩnh. Chúng tôi cẩn thận đi trên đường một cách chậm rãi, chỉ nghe tiếng chim kêu ngoài ra không thấy bóng dáng một người nào cả. Cả bọn yên trí là ra được tới đồn Đ.P.Q là an toàn, lúc đó sẽ tìm cách để về Đà Nẵng.
Vì mất liên lạc cho nên chúng tôi không biết tình hình bên ngoài như thế nào, cả bên TQLC cũng vậy. Chiếc GMC dự định đón Tr/Đội bạn và phe ta cũng bỏ đi lúc nào không thông báo gì hết. Mặc dù đường đi vắng vẻ nhưng chúng tôi cũng cảnh giác đề phòng mọi tình huống có thể xảy ra như mìn bẫy hoặc lựu đạn gài 2 bên đường cũng không ngoại trừ, lạ một điều là không thấy một bóng người nào đi làm ruộng cả. Mọi người thầm lặng bước đi, không đùa giỡn như mọi khi. Hình như ai cũng biết có chuyện gì đó không bình thường cho nên cứ lầm lũi mà đi.
Chỉ còn một quãng đường ngắn nữa thôi là tới đồn ĐPQ rồi. Tôi đang dẫn toán đi trước, bỗng nhiên anh chàng Tiền Đạo đứng lại ra hiệu cho mọi người dừng bước. Hắn chỉ lên phía đồn ĐPQ, mọi người nhìn theo và tất cả đều chưng hửng vì trên đó có lá cờ của bọn Mặt Trận Phỏng Giái treo lên từ lúc nào rồi. Thế là hết, mọi hi vọng đều tiêu tan. Tôi đứng như trời trồng nhìn lên rồi lại nhìn chung quanh, những gương mặt đầy thất vọng chảy dài ra. Mãi một lúc sau mới có đứa lên tiếng an ủi:
-Có lẽ tụi du kích nó thấy đồn bỏ trống cho nên nó lên nó ở chơi thôi, có gì đâu mà lo.
Lúc đó mọi người mới như chợt tỉnh lại, nói chuyện, bàn tán xôn xao, có đứa hỏi:
-Bây giờ mình làm gì đây? Đi đâu? Đi ra hay là đi dzô rừng lại?
Chúng tôi còn đang phân vân chưa biết phải tính làm gì, thì bỗng có tiếng loa từ ngoài đầu đường dưói chân đồn chĩa vào phía chúng tôi đang đứng:
-Những tên lính TQLC hãy ra đầu hàng với chính quyền Cách Mạng sẽ được khoan hồng, nếu ngoan cố chống lại sẽ bị tiêu diệt.
Thì ra là nãy giờ tụi tôi đứng đây là chúng nó đã thấy và chúng nó chỉ biết có TQLC mà thôi vì chúng biết Tiểu Đoàn 14 TQLC đóng ở vùng này rất nhiều, còn Biệt Kích thì chúng không biết có mặt ở đây. Chúng tôi thấy tụi nó dàn hàng ngang "dàn chào" anh em chúng tôi, cũng khá đông .
-Bà mẹ tụi bây ông đêch.. đầu hàng, đừng hòng dụ tụi tao..Tôi nói.
-Có ai muốn ra đầu hàng thì cứ ra, tụi này sẽ vô rừng lại.
Các bạn TQLC nói:
-Tụi tôi cũng theo mấy anh luôn.
Tôi, Long, Vui và Thể bàn với nhau sẽ dàn quân ra. TQLC đứng hàng sau, mình ngồi hàng trước, họ sẽ bắn trước rồi chạy, mình sẽ đi sau TQLC, cho họ chạy trước, tôi nói:
-Như vậy thì chúng ta dàn hàng ngang, các bạn TQLC bắn trước rồi chạy, sau đó chúng tôi cũng sẽ bắn và chạy sau, O.K?
Và chúng tôi đã làm như vậy. Bọn VC không ngờ chúng tôi chống cự mãnh liệt cho nên đến khi chúng tôi chạy rồi chúng nó mới bắt đầu bắn theo. Tụi tôi cứ tưởng rằng chỉ có đám du kích thôi, chứ đâu ngờ tụi nó đông quá, hỏa lực chúng nó cũng mạnh, có cả súng cối, chúng nó nhả đạn như mưa. Hầu hết mọi người đều chạy dưới ruộng và tản ra, chạy theo hình chữ chi. Tôi thấy bên trái rồi bên phải rồi phía trước có người trúng đạn, ngã xuống, có người đứng lên chạy tiếp và tất cả đều hướng về phía bìa rừng cuối ruộng lúa, vì nếu chạy ngược lên núi thì rất khó khăn và khó thoát. Hình như tôi là người chạy cuối cùng và quả thật tôi là người chạy sau cùng. Mọi người đã bỏ xa tôi, ngó lại phía sau chỉ thấy VC đang rượt theo. Có lẽ tại tôi chưa bỏ một cái gì xuống hết vì cũng sợ đói, khát, thành ra nặng quá. Chúng nó đang rượt đuổi ráo riết, chúng nó chạy trên đường lộ, có mấy thằng cũng chạy xuống ruộng nhưng rồi lại chạy lên đường. Tôi chạy vô sâu trong ruộng, chẳng còn thấy ai chung quanh tôi nữa.
Chắc phen này không thoát nổi rồi, chúng nó vẫn bắn theo tôi, chỉ có trời cứu may ra mới thoát. Gần tới bìa rừng rồi, cố lê-,tôi thầm nhủ.
Tôi chạy lọt xuống một vũng lầy hồi nào không biết, tôi cố bơi mà không tài nào trườn tới được. Nhìn qua bên cạnh khoảng 20 thước tôi thấy 2 đứa trong toán tôi cũng đang bơi như vậy, đó là Chánh và Hậu đều mới về Đoàn không lâu. Trước mặt tôi là một cái đồi thấp, gọi là cái gò thì đúng hơn, có 2 bạn TQLC đang bắn yểm trợ cho tôi lên nhưng không tài nào lết lên được, tôi nghe tiếng Chánh nói với tôi là:
-Thằng Hậu nó nói nó sẽ bỏ máy Truyền Tin có được không?
Tôi nói:
-Có cái máy mà bỏ thì làm sao mà liên lạc với nhau đây cha?
Chừng một lát sau tôi nghe Chánh nói :
-Thằng Hậu nó tự sát rồi anh Ngọc ơi!!
Có lẽ vì nhiều tiếng nổ chung quanh cho nên tôi không biết tiếng nào là tiếng của lựu đạn, tiếng nào là tiếng của súng cối cả, Chánh nói Hậu xin nó trái lựu đạn rồi cho nổ luôn.
Tôi điếng cả người muốn buông xuôi hết tất cả nhưng từ trên gò 2 bạn TQLC hối tôi :
-Nãy giờ tụi tôi bắn gần hết đạn mà ông chưa chịu lên nữa, lẹ lên!
Tôi thật cảm động vì họ chịu trận từ nãy đến giờ. Đến lúc này tôi phải bỏ ba lô, dây nước, chỉ mang theo 2 bình nước, dây lựu đạn và cây súng mà thôi; đồng thời tháo luôn đôi giày đang mắc kẹt dưới sình mới leo lên trên bờ. Khi tôi ngó lại thì không thấy Chánh đâu, chắc nó đã lên trước rồi.
Còn đang mệt đứt hơi mà tự nhiên nghe ai kêu tên mình. Tôi ráng bò lên lưng chừng đồi nơi có tiếng gọi trong một bụi cây nhỏ thì gặp Vui, nó bị thương ở cánh tay, máu chảy ra nhiều, tôi không có băng để băng cho nó cho nên tôi lấy cái khăn tam giác cột đỡ, tôi nói:
-Bây giờ mình phải đi khỏi chỗ này liền, mấy đứa TQLC chờ tao nãy giờ lâu lắm rồi, tao sẽ dìu mày đi.
-Không-Vui trả lời- mày đi đi, đưa tao mấy trái Mini, tao nằm đây chờ tụi nó tới tao cưa với tụi nó luôn.
Tôi nói:
-Hôm qua mấy đứa kia bị thương mình còn dẫn tụi nó đi mà, mày ráng đi với tao , còn chút xíu nữa là vô rừng rồi.
Vui cương quyết:
-Không, tao chẳng muốn làm phiền ai hết, mày cứ đi đi, mặc kệ tao.
Tôi biết tánh nó lì lợm và thẳng tánh, nói là làm. Tôi đưa cho nó một bình nước, nó uống một miếng rồi đưa lại cho tôi, nó bảo :
-Đưa mấy trái lựu đạn cho tao ,tao nằm lại đây, mày đi đi.
Tôi biết không thể thay đổi được tình thế cho nên tôi đành phải bò lên với hai bạn vẫn còn đang bắn yểm trợ. Một trái đạn cối rớt gần chỗ tụi tôi đang nằm, tôi vội chạy thẳng người lên phía trên nhập với 2 tay súng đang cầm cự.
Tôi đưa cho hai bạn bình nước, họ chia nhau uống. Tôi cũng khát quá, uống một miếng rồi dẫn 2 anh bạn lẫn vô rừng. Trên đường đi tôi nói cám ơn 2 bạn đã giúp tôi nãy giờ, họ nói:
-Tụi tôi phải cám ơn mấy anh mới đúng chớ, các anh đã dẫn tụi tôi ra, cứu những người bị thương bên tôi, bắn cho tụi này chạy trước thì tụi tôi phải lo lại cho anh thôi chứ có gì đâu. Thú thật với anh tôi thấy các anh gan lì và hiên ngang quá cho nên tôi rất nể phục mấy anh, bây giờ anh dẫn đi đâu tụi tôi theo đó.
Nghe anh bạn nói làm tôi cũng cảm thấy vui và hãnh diện. Có lẽ lúc đó cái mũi tôi phồng hơi to, tôi nói:
-Chuyện thường thôi mà.
Tôi dẫn 2 người bạn vượt qua mấy ngọn đồi. Tôi nghĩ đi càng xa càng tốt cứ đi chừng nào mệt thì nghỉ và tôi chọn một ngọn đồi khá cao có thể nhìn ra ngoài được để quan sát. Không thấy tên nào trên đường, không biết tụi nó có núp ở đâu không? Ngoài xa kia chỗ tụi VC chận đường hồi sáng không thấy rõ lắm cho nên tôi cũng yên tâm. Nhưng chưa kịp thoải mái thì chúng tôi thấy mấy chiếc xe Tăng đang chạy vô đường 544 tôi nói:” bỏ mẹ rồi”, nếu nó chạy vô đây thì nguy to. Nhưng không, nó đã dừng lại và nó bắt đầu bắn loạn xạ vào phía rừng chỗ sáng nay tụi tôi dừng lại và dọc theo con đường chỗ có khúc quanh. Nó cũng rê súng qua phía tụi tôi bắn mấy loạt đạn đại liên dọa dẫm. Trên đường chỗ ngã 3, tôi thấy xuất hiện nhiều xe Tăng hơn cùng với các loại xe khác nữa đang di chuyển ra ngoài xã Hòa Thanh. Cũng còn hên đấy, nếu hồi sáng mà tụi nó vô sớm hơn chắc là tụi này khó thoát.
Cho đến lúc này tôi vẫn đinh ninh là Đà Nẵng chưa mất cho nên tôi cứ suy nghĩ làm cách nào để về được ĐN đây? Xe Tăng mà vô đến đây nhiều như thế thì ĐN không tránh khỏi số phận như Huế. Ngoài ĐN còn biết bao nhiêu lính có lẽ cũng cầm cự được một thời gian chứ đâu có dễ dàng buông súng chạy hay đầu hàng đâu nhỉ???
Mấy chiếc xe Tăng vẫn nằm đó không bắn nữa. Tụi ngoài đường cũng ngưng tiếng súng nhưng lâu lâu lại có một trái đạn cối bắn bừa bãi vì chúng đâu còn thấy tụi này nữa đâu.?
Ngồi nghỉ ngơi quan sát động tĩnh phía ngoài và chung quanh cũng khá lâu, tuy không thấy tụi nó đi lùng nhưng tôi vẫn cứ dẫn 2 anh bạn đi sâu vô thêm cho chắc ăn . Và cứ thế mà đi theo những đường thông thủy cho đến chiều tối mới dừng lại uống một chút nước rồi lại tiếp tục đi mò mẩm trong đêm tối. Chỗ này lau sậy nhiều cho nên tôi thận trọng đi thật chậm để khỏi gây tiếng động, cứ theo suối cạn lần mò đi tiếp. Tôi đi được chừng hơn 100 thước thì tôi nghe có tiếng động phía trước, ba đứa tôi dừng lại nghe ngóng và tay tôi để sẵn trong cò súng, hễ có gì là phơ liền lập tức. Nhưng bỗng nhiên tôi nghe tiếng chửi thề đ.má nho nhỏ làm tôi thở phào nhẹ nhỏm. Đúng là phe ta chứ chẳng ai vào đây hết. Tôi mò tới gần hơn chỗ phát ra tiếng chửi thề rồi lên tiếng hỏi nhỏ:
-Ngọc Lôi Hổ đây, có phải phe ta không?
Tôi nghe tiếng Q.T .Long trả lời:
-Đúng , phe ta,tụi bây mấy đứa?
-Ba đứa, tui với 2 TQLC nữa.
-Vậy thì dzô đây nhập bọn cho dzui.
-Đ.mẹ chửi thề lung tung bộ hỏng sợ VC nghe hả cha nội?
-Sợ đé.. gì mà sợ?
Tổng cộng được 16 em dại, 9 Biệt Kích + 7 TQLC . Vậy cũng yên tâm và đỡ cô đơn hơn hồi nãy, tưởng đâu chỉ có 3 đứa tôi thôi chứ. Th/U H. cũng có mặt, như vậy là thiếu Ng.Trọng Vui và Th/U Thể, không biết nó có còn không hay đã cưa với tụi kia rồi? Nghĩ tới nó mà mình cảm thấy bứt rứt, thêm thằng Hậu nữa, có gì đâu mà phải làm như vậy??? Toán tôi còn lại Tr/S Đức răng vàng và Tr/S Chánh còn mấy người nữa tôi không nhớ hết.
Chúng tôi ngồi lại bàn với nhau để tìm cách thoát ra khỏi khu vực này. Vì tụi VC biết chúng tôi đang lẩn trốn trong rừng và chưa thể đi xa hơn. Nếu đi đường rừng thì phải mất nhiều thời gian mới về được ĐN, với lại nhiều đứa đã phải bỏ giày làm sao mà lội rừng được. Cho nên chỉ còn một cách là lội ngược trở ra đi trong ruộng lúa, làm sao mà qua được bãi biển gần Nam Ô thì mới có cơ hội đi bằng ghe thuyền để về đơn vị. Giờ này trời cũng chưa có trăng rất thuận tiện để lội ra ngoài, tránh làng xã đi ra Quốc Lộ 1 rồi xuống biển. Tuy rất nguy hiểm nhưng phải liều thôi, không có chọn lựa nào khác.
Bàn xong là chúng tôi đi liền. Trời tối cho nên không lo tụi nó thấy. Chúng tôi đi thật nhanh vì nếu trăng lên thì chết chắc. Ra đựơc khỏi rừng cũng mất hết hơn 2 tiếng đồng hồ mới tới ruộng, rồi lom khom mà đi trong đêm tối. Khi đó, chúng tôi đã gặp phải một khó khăn mới đó là xe Tăng và các loại xe đang chạy trên đường chắn ngang đằng trước mặt- con đường mà sáng nay VC chận tụi tôi. Tuy còn khá xa nhưng ánh đèn của những chiếc xe cũng làm chậm lại sự di chuyển của chúng tôi. Cũng còn khá may cho chúng tôi là tụi nó từ đường 545 đi ra. Mà con đường đó khuất bên kia đồi có đồn Đ.P.Q, tức là song song với hướng chúng tôi đi ra và nó phải quẹo 90 độ mới đi ngang trước mặt. Vì thế, chúng tôi dặn nhau là khi tới gần đường thì phải nằm sát xuống. Khi thấy đèn dọi thẳng thì từng người chạy qua, dọi ngang thì nằm xuống, qua được bên kia thì tất cả phải nằm chờ cho đủ rồi mới đi tiếp.
Nửa tiếng sau mọi người đều qua được phía bên kia. Tuy rằng chỉ có ½ tiếng đồng hồ thôi nhưng sao mà nó dài như vô tận. Xe chạy liên tục, những ánh đèn nối đuôi nhau lướt qua trên đường. Hồi hộp và nín thở, chúng tôi đếm đủ 16 rồi mới tiếp tục đi hơi xéo xéo để tránh cái xã Hòa Hiệp, cũng lội ruộng hơn 1 cây số nữa mới tới một khu nghĩa địa. Từ đây, chúng tôi phải đi cẩn thận hơn vì mặt trăng đã bắt đầu ló dạng.
30/3
Bây giờ đã qua ngày 30/3 rồi, tôi cảm thấy đói bụng vì từ sáng hôm qua cho tời giờ chẳng có cái gì bỏ bụng cả, mà còn phải chạy suốt buổi nữa, nước cũng còn được một chút thôi thì uống nước đỡ vậy. Cả đám lầm lũi bước đi. Dù không ai nói ra, nhưng tôi biết ai cũng mệt và đói cả rồi. Chân thì đau rát vì những vết trầy xước, nếu đi trong ruộng nước thì đỡ đau hơn, giờ bắt đầu đi trên đất đá đầy những bụi gai tôi mới thấy tiếc đôi giày. Tôi nghĩ thầm: "Như vậy là cũng may lắm rồi, nếu không tháo đôi giày thì làm sao ra khỏi vũng sình được. Kệ nó, tới đâu hay tới đó!"
Chúng tôi đi vào một khu Nghĩa Trang, hình như không có ai chăm sóc cho nên cây cỏ mọc tràn lan trên đất cát và cả trên những ngôi mộ xi măng nữa. Đi trong này dù sao cũng đỡ hơn ngoài kia vì mình có thể ẩn núp được, hơn nữa ở đây cát nhiều cho nên đỡ đau chân hơn. Đang đi bỗng tôi vấp phải một vật gì tròn, lớn, hơi lạnh lạnh. Tôi cúi xuống rờ thử thì biết đó là một trái dưa hấu, thật đúng là đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Cả đám ngừng lại ngồi thưởng thức, dù không thấm vào đâu nhưng cũng đủ ấm lòng Chiến Sĩ....đang đói .
Chúng tôi lại tiếp tục đi về hướng Quốc Lộ 1. Sau khi đã nghỉ chân lấy sức, chắc không còn bao xa nữa là có thể băng qua đó để xuống bờ biển. Từ lúc bắt đầu đi ra khỏi chỗ ẩn núp đến giờ thật là may mắn vì không gặp một trở ngại nào đáng kể, mọi chuyện êm xuôi như dự tính. Khi đã ra khỏi Nghĩa Trang để tới một khu đất trống, nơi trước đây là một Phi Trường Dã Chiến của quân đội Đồng Minh sử dụng, giờ đã bỏ hoang, tôi thấy chỉ còn lại cái Phi Đạo hư hỏng và một cái hố rác mục, phía trên được che bởi tảng đường nhựa còn sót lại mà thôi. Lúc này trăng sáng hơn cho nên chúng tôi đi dễ dàng hơn trước nhiều, cũng không quên quan sát mọi phía. Băng qua cái phi trường là đến một cái voi (doi) nước, bên kia voi (doi) nước lại thêm một cái Nghĩa Trang nữa rồi mới tới Quốc Lộ 1. Cả bọn ngồi nghỉ mệt, trong lúc đó Th/U Long và tôi cùng một vài toán viên nữa đi thẳng xuống voi (doi) nước để quan sát tìm cách qua bên kia bờ. Nhưng khi đến nơi mới thấy không dễ dàng vượt qua. Nước thì đen ngòm và sâu hoắm. Tuy rằng trong bản đồ chỉ thấy nhỏ xíu, nhưng ở ngoài thì nó rộng và dài hơn mình nghĩ. Nếu đi đường vòng thì sợ gặp nhà dân chúng, có thể bị lộ. Thôi thì ở lại chờ trời sáng cho chắc ăn.
Bọn tôi quay trở lại chỗ anh em đang ngồi nghỉ và quyết định ngủ lại đây chờ sáng thấy đường rồi tính sau. 16 người chui vô cái hố rác mục để ngủ lấy sức. Hố rộng rãi và có mái che bằng đường nhựa dư sức cho 16 người nằm thoải mái. Vì quá mệt cho nên chỉ trong vòng chưa đầy 5 phút mọi người đều mở máy cưa, máy kéo đủ kiểu. Tôi cũng không thể nào cầm cự lâu hơn và thiếp đi vài tiếng đồng hồ.
Khi tôi tỉnh giấc thì trời đã hửng sáng. Có nhiều tiếng súng ở xa xa, đầu trên, đầu dưới, chỗ nào cũng có, không biết ai bắn, bắn ai???? Một số anh em cũng đã thức dậy. Tôi nhìn lên Quốc Lộ 1 thấy có vài chiếc xe chạy trên đường không rõ lắm, không biết xe gì. Cho đến khi trời sáng hẳn, tôi mới thấy rõ hơn những chiếc xe đó có gắn cờ xanh đỏ, chở đầy người chạy trên đường. Súng vẫn nổ đó đây.
Tôi coi lại súng của tôi, trong băng đạn chỉ còn đúng 3 viên và một trái M79, ngoài ra còn bản đồ, một trái lựu đạn Mini. Tôi suy nghĩ: "Bây giờ phải làm gì với mấy thứ này đây? Chắc chắn là chúng nó đã chiếm ĐN rồi, làm sao bây giờ?". Mỗi người đều vẫn còn mang theo súng của mình, nhưng đạn thì chắc chỉ đủ cho mình thôi chứ bắn được ai đâu? Tôi thấy mọi người đều đã thức dậy và không ai nói với ai câu nào, dù chỉ một lời. Nói gì bây giờ? Mỗi người đều hiểu rằng chẳng còn hy vọng gì hết.
-Bây giờ anh em tính sao? Tôi hỏi.
-..............!!..
-Giờ mình đi đâu?
-..............!!..
-Có ai muốn đi với tôi không?
-.......??..??...
-Nếu không ai đi thì tôi đi một mình, mấy anh ở lại mạnh giỏi.
-.................
Tôi đứng lên, bỏ súng lại, cất bản đồ cùng với trái lựu đạn trong túi quần , leo lên khỏi miệng hố rồi đi ra hướng Quốc Lộ 1. Tôi chẳng biết là mình sẽ đi về đâu? Sẽ làm gì? Sẽ ra sao? Tôi thấy trong lòng rất thanh thản. Không khí ban mai làm cho tôi thấy dễ chịu. Kệ mẹ nó! Tới đâu thì tới, mình phải đi thôi, rủ chẳng ai đi thì mình đi một mình, có chết thì cũng một mình thôi, mà số mình chắc cũng chưa tới vì mới cách đây hơn một tháng mình đi chuyến "Đặc Biệt" mất hết 4 mạng còn chưa chết thì bây giờ cũng đé.. sợ cái thằng nào hết.
Khi tôi đi được chừng khoảng 50 thước thì nghe ở phía sau có tiếng kêu: - Ngọc, chờ tao với.
Tôi quay lại thấy Th/U Long và Tr/S Đức chạy theo, làm cho tôi cảm thấy đỡ cô đơn hơn. Đám còn lại có lẽ chờ tụi này đi một khoảng xa để coi có bị ai bắn không rồi mới chui ra.
Ba đứa tôi đi qua hướng bên trái cặp theo bờ của cái doi nước về phía cầu Nam Ô- nơi có những lũy tre xanh mà ban đêm chúng tôi nghĩ là nhà dân, nhưng sáng ra mới thấy là không có nhà cửa nào ở gần đây hết và chỗ đó có một bờ xi măng giống như cái đập ngăn nước vậy. Chúng tôi đi qua cái đập rồi lại rẽ phải một quãng để vào Nghĩa Trang. Từ đó chúng tôi định đi ra đường QL 1 nhưng thấy nguy hiểm quá, vì trên đường lộ súng bắn lung tung. Không biết tình hình ra sao cho nên tụi tôi kiếm một ngôi mộ có mái che để nghỉ chân và bàn với nhau coi có cách nào để về ĐN an toàn không. Vừa lúc đó tụi tôi thấy một chiếc xe Tang có màn che phướn rũ rẽ vào Nghĩa Trang. Trên xe có khoảng 4 hay 5 người gì đó, có tiếng khóc của phụ nữ cùng với tiếng gõ mõ tụng kinh, không biết họ chôn ai đây? Có lẽ một người Lính hoặc cũng có thể là một thường dân? Chúng tôi quan sát thật lâu cho đến khi xe dừng lại khoảng giữa Nghĩa Trang, một cái hòm được khiêng xuống cùng với cuốc xẻng. Họ khiêng vào một khoảng đất trống rồi chuẩn bị đào huyệt.
-Đúng là Trời thương mình rồi tụi mày ơi! Mình lại xin họ phụ đào huyệt rồi xin họ quá giang Về ĐN, ngồi trên xe này là an toàn nhất không sợ ai thấy..Tôi reo lên mừng rỡ..
Thế là cả ba đứa đi lại chỗ họ đang chuẩn bị đào đất nói cho họ biết ước muốn của bọn tôi và họ chấp thuận ngay không ngại ngần gì cả. Ba đứa thay phiên nhau đào không biết mệt ,chỉ cần đào một chút nữa thôi là cái huyệt đã cao tới cổ của tôi rồi. Họ và tụi tôi cũng chẳng nói chuyện với nhau câu nào cho đến lúc.....những tràng súng từ trên đường bắn xối xả xuống phía chúng tôi đang đào. Mấy người dân vội núp sau những ngôi mộ. Tôi đang đứng dưới huyệt với một người dân cùng với Đức vừa nhảy xuống, họ nói với tụi tôi rằng:
-Đà Nẵng đã mất rồi, nếu mấy anh là lính thì lên "trình diện" với họ
(VC) đi, đừng để tụi tui phải chết chung với mấy anh!!!!!
-Trình diện là sao? Tôi hỏi.
-Ở ĐN họ kêu quân đội ra trình diện hết rồi, sau đó được thả về nhà, cho nên mấy anh đừng sợ.
Tôi vẫn chưa tin. Tuy nhiên vì thấy họ có vẻ khẩn thiết quá, mà tụi chó nào trên đường vẫn cứ tiếp tục bắn xuống, nên tôi phải quyết định đi lên. Tôi lén vùi trái lựu đạn dưới chân, rồi đợi cho mấy người dân đưa áo trắng, để trên kia ngưng bắn tôi mới leo lên.
Thế là hết! Bao nhiêu hy vọng tan tành theo mây khói. Tôi nghĩ nếu tụi nó biết mình là Biệt Kích thì nó sẽ thịt mình ngay. Mà bây giờ biết phải làm sao đây? Nếu nó không giết mình thì hy vọng nó sẽ nhốt mình với ông anh hồi đó cũng bị bắt năm 71, nghe nói đang giam ở đâu ngoài Bắc thì phải. Lúc trước ổng ở Phi Đoàn 219 cũng đi thả Lôi Hổ đấy.(*)
Ba đứa tôi đi lên, tụi nó ra lệnh phải cởi áo ra và để tay lên đầu. Khi lên tới nơi, có một thằng nhóc cầm súng M16 lại gần hỏi tôi:
-Có phải anh là bạn của Th/U Phận không? Tui nhớ mặt anh vì hồi đó anh có ghé làng Liên Chiểu đánh Bi Da uống cà phê với Th/U Phận nè, bộ râu của anh làm sao tui quên được?
Thấy nó có vẻ dễ chịu tôi hỏi:
-Bắt như vậy bị giam ở đâu? Có lâu không?
Nó trả lời:
-Chỗ nhốt ở gần đây thôi, còn lâu mau thì tui hỏng biết, có lẽ cũng không lâu đâu.
Tôi thấy phía trên đường đông lắm, có cả xe Jeep rồi Molotova nữa. Có một toán Phóng Viên của tụi nó cũng đứng đó, có lẽ nó đi ngang thấy rồi đứng lại coi. Sau khi lục soát không thấy vũ khí hoặc vật gì nguy hiểm thì tụi nó không trói, rồi đưa 3 đứa lên xe Jeep chở về xã Hòa Hiệp. Tại đó có một số Tù Binh đủ mọi thành phần, trong số đó có cả 13 ông bạn mình bị trói thúc ké ngồi riêng một góc trông thật tức cười. Một lát sau họ cũng được cởi trói, vì sau khi điều tra, họ không biết chúng tôi là những người hôm qua chống cự rồi rút chạy, coi như thoát nạn.
Có một đám bộ đội CSBV cũng đến coi, chúng nó chỉ trỏ nhục mạ TQLC rồi sau đó hỏi mấy người dân đứng chung quanh:
-Còn mấy thằng đồ xanh tóc dài dài nà nính gì thế?
Dân trả lời:
-Biệt Kích Long Thành đó mờ?
-Mang dza bắn bỏ, mang dza bắn bỏ..bọn nó gào lên.
Dân trả lời:
-Thâu đi mấy chú ơi! Mấy chú khang biết cứa chi coả. Họ đi ngeng đai hùa mà có bô giờ béc gừa béc dzịt của dân đâu mà bén bỏ bén bỏ?
Mấy tay Du Kích cũng lên tiếng:
-Chỗ ni là chỗ chúng tôi trách nhiệm, không cuan chi tới các anh, để chúng tôi lòm việc.
Chiều hôm đó chúng bắt được một anh Cảnh Sát Đặc Biệt. Thật tội nghiệp cho anh này vì dân trong Xã đã kể tội anh ta đủ thứ. Anh này không được cởi trói và dân xông vô chỗ chúng tôi bị giam để khảo tội anh ta. Mỗi lần như vậy họ đánh anh không thương tiếc. Chúng tôi chỉ ngồi yên không có một hành động nào hết cho đến khi tên Tổ Trưởng can thiệp thì anh ta mới được yên. Dân làng đã nấu cho chúng tôi một nồi cháo lòng vì họ biết chúng tôi đói lắm. Thấy họ cũng không có ác cảm gì với tụi tôi. Họ bảo ăn từ từ thôi kẻo bị trúng thực và họ cũng khuyên đừng nên chống lại "Cách Mạng". Đêm hôm đó chúng tôi được ngủ yên vì quá mệt, mặc cho muỗi tha hồ tung hoành. Phía ngoài được canh gác cẩn mật bởi những tay Du Kích. Lâu lâu tôi phải thức giấc vì chân tôi đã bắt đầu đau đớn, những vết thương bị mưng mủ khắp nơi mà không có gì để lau rửa. Đất, sình bám đầy hai bàn chân thật khủng khiếp! Chịu thôi.!.!
31/3
Trời vừa hửng sáng, chúng tôi thấy dân làng lại nấu cháo mang đến cho Tù Binh. Sau khi chúng tôi được ăn uống đầy đủ và có phần khỏe khoắn hơn mấy ngày qua thì thấy dân chúng tụ tập đông hơn. Họ đã yêu cầu tên Tổ Trưởng cho dẫn anh Cảnh Sát ra ngoài để lập "Tòa Án Nhân Dân" xử anh này. Họ đã mang ra ngoài sân trường gần đó và chỉ sau 1/2 tiếng đồng hồ chúng tôi nghe nhiều tiếng súng nổ vang. Chúng tôi biết anh ta đã bị xử tử. Dân chúng giải tán, còn lại tên Trưởng toán, Xã Đội Trưởng thì đúng hơn. Tay cầm cây K54 còn bốc khói bước vào trong nhà, hắn kéo cái bàn ra giữa nhà ngồi lên trên đó. Hắn suy nghĩ một hồi làm tụi tôi nín thở (có lẽ hắn vừa bắn phát ân huệ cuối cùng), đột nhiên hắn hất hàm hỏi:
-Sao? Mấy anh có còn muốn chống lại C.M không? Nếu muốn chống lại thì sẽ như tên ác ôn kia. Thế nào? Các anh tính sao?
Không ai dám hé môi dù chỉ một lời.
Hắn lại hỏi tiếp:
-Các anh có muốn được về với gia đình không?
Cả bọn chưng hửng. Một câu hỏi thật dễ trả lời và trên gương mặt hắn không có vẻ gì là lừa gạt cả, tôi trả lời ngay:
-Chúng tôi không có ý định chống lại ai hết, còn gì đâu để mà chống? Nếu thực sự anh cho chúng tôi về thì chúng tôi cám ơn.
Hắn lại cúi đầu im lặng một lúc lâu rồi ngẩng đầu lên cất giọng khàn khàn:
-Các anh được tự do trở về nhà...
Chúng tôi không nghĩ là hắn nói thật, có lẽ nào? Nhưng rõ ràng mặt hắn rất thành thật khi thốt ra nhưng lời đó, hắn tiếp:
-Các anh được tự do vì chính sách khoan hồng nhân đạo của......
Chúng tôi chẳng cần nghe thêm nữa, tôi hỏi tiếp:
-Anh có cấp giấy trả tự do cho chúng tôi không?
-Có chứ, anh ta đáp: Tôi sẽ dẫn các anh ra ngoài trụ sở để họ làm giấy cho các anh.
Chúng tôi đi theo anh ta ra ngoài Xã. Ở đó có mấy người ngồi phụ trách giấy tờ nhưng..... không ai biết đánh máy, cũng không biết viết cho nên chúng tôi nói :
-Thôi khỏi cần giấy, hễ tụi tôi bị bắt lại thì mấy anh xác nhận là mới thả được rồi. Thế là chúng tôi đi thật nhanh ra ngoài Quốc Lộ 1 mà cứ sợ chúng đổi ý, chúng tôi chia tay với một vài người đi về hướng đèo Hải Vân vì nhà họ ở phía ngoài Huế, còn lại chúng tôi đi về Đà Nẵng.
Như một đám tàn binh, chúng tôi cố gắng đi thật nhanh mặc dù chân đứa nào cũng "thương tích trầm trọng". Lâu lâu có một chuyến xe đò chạy ngang qua nhưng họ không dám dừng lại khi chúng tôi đưa tay đón. Họ không biết chúng tôi thuộc loại nào mà lại lang thang lếch thếch như thế này? Có lẽ họ nghĩ rằng chúng tôi mới ở đâu đó chui ra cho nên chẳng dại gì mà dây vào cho thêm nặng tội.
Khoảng cách từ cầu Nam Ô về Đà Nẵng cũng khoảng trên dưới 30 Km. Chúng tôi biết không có hy vọng để quá giang xe cho nên cứ lết được tới đâu hay tới đó. Trên đường đi, hai bên là đồng ruộng, đường xa vời vợi nhưng nghĩ đến chuyện sẽ về Đà Nẵng cũng cảm thấy hăng hái một chút. Khi chúng tôi đi ngang qua những căn cứ quân sự của B.Đ.Q ở Hòa Vang thì bị bắt lại. Sau khi được xác nhận là đã được tha bởi "quân C.M"ở Xã Hòa Hiệp thì chúng tôi lại được thả cho đi tiếp. Cứ như thế không biết bao nhiêu lần.
Chân tôi càng đau đớn nhiều hơn và bắt đầu sưng lên. Không biết bao lâu chúng tôi đã tới ngã ba Huế và lại bị bắt hạch hỏi đủ điều. Lần này những tên khốn nạn CM 29-30 đã bắt chúng tôi cởi trần mới được vào thành phố. Bây giờ không còn cách nào khác hơn là phải chịu nhục để được yên thân. Gần đến nơi rồi, đừng năn nỉ chúng nó làm gì, kệ mẹ nó, đi thôi.!.!
Về đến ngã ba Cai Lang chúng tôi chứng kiến một cảnh tượng thật đau lòng. Tất cả những người Thương Binh ở Tổng Y Viện Duy Tân đều bị lùa ra ngoài đường. Họ nằm ngồi la liệt bên cạnh những đống rác hôi tanh, bên những vũng nước nhầy nhụa, bông băng, máu mủ. Không thể nào diễn tả hết được những sự độc ác của lũ khỉ hóa người, không tình đồng loại, còn thua xa những con thú chứ đừng nói gì đến so sánh với súc vật. Có những ngưòi nằm chết cong queo, có những ngưòi rên siết vì những vết thương. Chúng tôi đi qua, không có gì để giúp đỡ họ. Chúng tôi chỉ hơn họ là còn đi được mà thôi. Cả bọn chúng tôi ứa nước mắt lầm lũi bước đi trong nỗi căm hờn với cái bọn đê hèn đốn mạt kia.
Mình thua thật rồi. Đà Nẵng mất thật rồi. Bạn bè tôi đâu? Đơn vị tôi đâu? Có lẽ họ cũng bị bắt đâu đó? Nếu họ có thoát được, mong họ bình yên. Còn gia đình tôi giờ đang ở đâu? Tôi về có còn gặp lại ai nữa không? Còn những con súc vật sẽ đối xử với kẻ bại trận như thế nào đây? Bao nhiêu câu hỏi quay cuồng trong đầu tôi, Tôi muốn điên lên được. Chắc các bạn tôi cũng vậy!!
Chúng tôi vào đến thành phố Đà Nẵng vắng vẻ. Một vài nơi đổ nát hoang tàn, phố xá thảm hại, dân chúng chắc ở trong nhà nhiều hơn ngoài đường. Không ai để hỏi thăm tình hình Sài Gòn ra sao cả. Chúng tôi đi qua một ngôi Chùa, ở đó thấy đông người hơn những chỗ khác. Chúng tôi chia tay một lần nữa. Hầu hết các bạn đều vào Chùa xin tá túc. Tôi chia tay Th/U Long và Th/U H.. Tôi sẽ về nhà chị Dâu tôi xem có ai còn ở lại không? Nếu không còn ai có lẽ tôi sẽ đi tìm một Nhà Thờ nào đó xin tá túc rồi sẽ tính sau.
Chỉ còn một mình tôi lủi thủi đi từ Chợ Cồn về đường Phan Đình Phùng /Lê Lợi. Lúc này chân tôi không còn biết đau đớn là gì nữa vì mãi lo suy nghĩ không biết có chuyện gì xảy ra cho gia đình chị Dâu tôi không? Có còn ai ở nhà hay đã di tản khỏi nơi này rồi? Đường phố sao mà vắng tanh như ngày Tết vậy? Hay là người ta ra khỏi thành phố lánh nạn ở đâu đó? Tôi đi qua những hàng quán trước kia tấp nập nay cửa đóng then cài. Xe cộ cũng biến đâu mất cả. Đúng là thành phố chết. Tôi cứ lầm lủi bước đi mà trong lòng chẳng có hy vọng gì gặp lại người thân. Từ xa tôi đã thấy cái cổng sắt trước nhà, tôi đi chậm lại rồi khi chỉ còn vài căn nữa tôi đứng lại quan sát. Nhà nằm ngay góc ngã tư đường, tôi đứng chờ hoài không thấy bóng dáng một ai cả,hàng xóm cũng thế. Tôi nghĩ trong bụng là cứ tới trước cửa coi sao, nếu không có ai thì mình cứ vô nhà rồi tùy cơ ứng biến.
Tôi đứng trước cửa mà tim tôi đập mạnh. Cửa không khóa ngoài lẫn trong, nhà cũng chẳng bị hư hỏng gì cả. Tôi định thò tay vô để mở cái then cài phía trong thì chợt thấy có bóng ai vén rèm cửa lên nhìn. Tôi chưa biết là ai thì nhanh như cắt thằng em của bà chị Dâu tôi chạy ra mở cửa cổng sắt lôi tôi vào rồi đóng cửa lại, kéo tôi chạy vô trong nhà cũng nhanh như lúc nó chạy ra vậy. Thì ra là thành phố đang trong tình trạng giới nghiêm- nó cho tôi biết thế . Mọi người mừng rỡ vì thấy tôi an toàn trở về. Tôi chỉ kể sơ về chuyến đi và làm sao thoát được để về đến đây, thế thôi. Bây giờ tôi cảm thấy tội nghiệp cho mấy người bạn của tôi không biết bây giờ ra sao? Việc tôi làm trước tiên là tắm rửa thay quần áo và săn sóc các vết thương ở dưới chân. Sau đó chị tôi kêu tôi ăn một chút cơm, sao mà nó ngon không thể tưởng tượng được. Lúc này đã là buổi chiều sắp tối rồi, tôi leo lên giường chỉ trong chốc lát tôi không còn biết gì nữa cả, thân thể rã rời vì suốt mấy ngày qua phải đương đầu với bao nhiêu hoạn nạn, khó khăn!!
1/4
Sau một đêm thẳng giấc không vướng bận,không lo nghĩ và thật là ấm áp, sức khỏe của tôi hồi phục thật nhanh. Tôi chỉ ở quanh quẩn trong nhà theo dõi tin tức chiến sự qua các đài V.O.A , B.B.C và đài phát thanh Sài Gòn. Những người trong nhà kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra từ lúc tôi đi Công Tác cho đến giờ. Không ai nghĩ rằng tôi sẽ trở về. Đây là lần thoát chết thứ hai trong đời Lính của tôi. Ở nhà có nghe tin tôi mất tích và lần nào cũng thấy được toàn thây trở về.
Hôm nay là hạn chót cho Sĩ Quan, Công Chức, Binh Lính chế độ cũ phải ra trình diện. Chúng nó phát loa kêu gọi, hăm dọa làm cho gia đình chị tôi lo sợ. Họ nói tôi phải đi ra ngoài trụ sở gì đó để "nộp mạng", nên tôi phải đi ra ngoài . Hôm nay trên đường phố có đông người qua lại hơn hôm qua. Tôi thấy ai cũng cắm cúi đi mà không ai nhìn ai cả. Trên đường tới chỗ trình diện tôi có gặp Đ/ Úy Thục và Th/Úy Phụng cũng lang thang ngoài đường tới chỗ làm giấy tờ để vào tù, tôi hỏi Đ/Úy Thục:
-Sao anh còn ở đây? Tưởng anh đi theo Đoàn rồi chứ?
-Đi răng được mà đi? Tau cọ biết chi mô? Đ.mạ, tau với Th/Úy Phụng ở trên núi Sơn Trà mà còn bị bỏ lại đây. Chọ mạ lặm mi ơi, tau thấy mi còn lành lặn trở về là tau mừng rồi, còn thằng Thể với mấy đứa kia đâu?
Tôi chỉ kể vắn tắt cho ổng nghe những gì đã xảy ra cho anh em cùng đi, ai còn, ai mất, rồi mạnh ai nấy đi.
Những ngày sau đó là "Tập Trung Cải Tạo", Thiếu Úy trở lên đi trước, Chuẩn Úy đi sau (15 ngày tại chỗ) sống lang thang đói rách cho đến ngày mất Sài Gòn vẫn còn lang thang, mãi 2 tháng hơn mới về được Sài Gòn. Tưởng đâu được yên nhưng rồi cũng phải chui vào rọ vì trên đầu có dán cái nhãn Biệt Kích Lôi Hổ. Ngày đi thì có, ngày về thì mút chỉ.
Chung Tử Ngọc 729 SCT/NKT
(*)Tr/Úy Chung Tử Bửu -Phi Công Phi Đoàn 219 lúc đó đóng tại Đà Nẵng