Thursday, June 13, 2019

SỐNG TỐT SẼ GẶP TỐT !

Câu chuyện liên quan đến một người lính trẻ, tuổi 20. Biệt Kích (Hồn Ma Biên Giới) VNCH nằm lại tại khu rừng Hoà Bắc. Hoà Liên. Đà Nẵng.
Chiều hôm qua Thu Nguyen nhận cuộc điện thoại của mấy anh em một thời làm nghĩa vụ tại Campuchia . Mời đến nhà một người bạn thời lính, có chút tiệc nhỏ...
Cách vài tháng là anh em chúng tôi gặp mặt một lần, quan tâm đến cuộc sống hiện tại ... và hay nhắc về lại một thời tuổi trẻ, của những ngày tháng gian khổ ở Campuchia ...
Nhưng lần này thì khác, tôi được nghe một câu chuyện thật tuyệt vời ! Của bạn Hồng. Lính trinh sát . Đại đội C21 . E38 . Bạn kể lại câu chuyện: Hôm ngày 30/4/ 2019
Trưa đó bạn đang nằm ngủ, nghe người em chạy vào đánh thức và nói: Anh Hồng ơi ! Có nhiều người lạ, sang trọng lắm ... đến tìm anh! Mắt nhắm mắt mở, bạn Hồng chưa hiểu gì hết ... Sau khi ra gặp số người đi tìm Hồng . Hồng chưa kịp hỏi những vị khách , thì đã có một người lớn nhất trong số người đó thật sang trọng với giọng nói Sài Gòn: Xin lỗi em ! Cho anh hỏi em có phải là Hồng không ? Hồng trả lời dạ đúng rồi anh ! Các anh tìm em có việc gì không ? Người đàn ông đó nói tiếp : Anh có hỏi thăm nơi địa phương ở đây, có người nói em có biết một người lính VNCH chết trước ngày giải phóng Đà Nẵng 29/3/1975 khoảng mấy ngày, có đúng thật vậy không ? Giây phút này Hồng rất hồi họp , và hỏi lại mấy vị khách : các anh có biết tên của người lính đó không ? Cho em biết ! Nếu không sẽ nhầm ! Người đàn ông trả lời : người lính đó tên Hậu! Lúc này toàn thân Hồng như thấy rung lên ... vừa vui ! và hồi họp ...
Bạn Hồng lúc này không chần chừ, cầm tay người đàn ông đó và cùng mấy người , chạy ra phía sau nhà, nơi đó là khu đồi có những nghĩa trang. Hồng nói anh Hậu nằm đây ! Lúc này Hồng đứng trước ngôi mộ vái lên những câu : anh Hậu ơi ! Anh thật linh ...
Mấy tháng gần đây. Hồng thường hay ra mộ vái với anh:
Nếu anh có linh thiêng, thì tìm gia đình của anh, đưa anh về với gia đình. Còn nơi đây cũng gần bị giải toả ...!
Riêng Hồng thì từ trước đến nay cũng đã đi tìm gia đình anh Hậu đến tận Đồng Tháp, theo như những giấy tờ Hồng đã tìm thấy trong cái ví của anh, cái ngày bị bắn chết bên hồ nước. Những lần đi tìm của Hồng đều vô âm tính ...
Sau khi gia đình anh Hậu đã biết đúng đó là ngôi mộ thật của người em út trong gia đình. Trong những ngày gần đó họ đã quay về lại khách sạn Đà Nẵng, chờ Hồng đi coi ngày giờ tốt ...! Rồi mới xin hốt cốt anh Hậu .
Ngày hốt cốt cho anh Hậu . Cũng chính một mình tay Hồng hốt cốt cho anh ... !
Đêm hôm qua Hồng kể lại câu chuyện cho anh em tôi nghe ... Cũng giống như Hồng đã kể cái ngày chết của anh Hậu cho những người thân của anh Hậu nghe.
Hồng kể : Vào ngày 27 / 3 / 1975 là còn hai ngày nữa giải phóng Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Hồng khi đó mới 9 tuổi. Hôm đó Hồng đi chăn trâu, khi ngang qua hồ nước con trâu nó hất Hồng ngã xuống bên cái hồ nước, khi Hồng té xuống cạnh bên hồ thấy phát hiện có một cái xác chết của một người lính VNCH vẫn còn máu ! Hồng kéo anh Hậu lên nhưng đã chết . Sau đó Hồng quay về kể lại cho người thân nghe ... Người thân mới nói Hồng ra xem trong túi quần anh lính đó thử có cái gì không ...! Khi Hồng ra tìm trong túi quần anh Hậu , thấy có một cái ví , mở ra thấy có tiền và giấy tờ. Hồng đã mang tất cả những thứ đó về nhà .
Đến 7 năm sau... Lúc này Hồng đã đúng 16 tuổi . Cũng hôm đó đi chăn trâu, lại thêm một lần nữa khi đi ngang qua cái hồ nước ... Con trâu cũng đã làm cho Hồng ngã trúng ngay chỗ mà Hồng đã bị ngã cách đó 7 năm. Sau khi ngã xuống bên bờ hồ , trước mặt Hồng đã nổi lên một cái đầu lâu ... lần này Hồng trở về nhà, với cái tuổi 16 ý thức hơn cái tuổi những năm mới 9 tuổi ! Hồng mang câu chuyên ra kể lại cho người mẹ ruột .
Hồng kể: Mẹ ơi ! Hôm qua khi đi chăn trâu, cũng đi ngang qua chỗ lần trước... Con đã thấy cái đầu lâu ...! Chắc là của anh Hậu ! Ngày mai con sẽ hốt cốt ảnh và sẽ chôn cho tử tế ! Ngày xưa con mới 9 tuổi chưa biết gì... Ngày nay 16 tuổi cho con làm trách nhiệm này... Mẹ Hồng nghe xong bà đã đồng ý ! Và khuyên con mấy điều, ra hốt cốt nhớ đừng để cho ai biết ... Nếu không sẽ bị liên luỵ tới gia đình !
Ngày hôm sau Hồng ra lại chỗ cái hồ nước, mang theo những tấm vải mà mẹ Hồng đã chuẩn bị trước . Suốt ngày hôm đó Hồng mò hết quanh cả cái hồ nơi anh Hậu nằm ở đó đã nhiều năm ... Sau khi hốt xong, Hồng kiểm tra hết tất cả những số xương cốt , nhưng vẫn sợ còn thiếu... Hồng mới vái tiếp: anh Hậu ơi ! Nếu anh có linh thiêng thì cho em thêm mấy tiếng nữa tìm cho đủ cốt anh ! Chứ đừng để sau này khi em chôn rồi, anh về đòi hỏi em là không được ! Nhưng thật sự Hồng đã làm tốt hết trách nhiệm của mình !
Ngày hôm đó Hồng cũng làm cái lễ cúng cơm và chôn anh Hậu trên một cái đồi phía sau nhà, nơi đó cũng có những ngôi mộ của gia đình Hồng.
Nghe câu chuyện xong, tôi cảm thấy yêu quý bạn mình nhiều hơn !!!
Và Hồng lại kể tiếp: Anh Hậu này linh lắm các bạn tôi ơi ! Hồng kể : Những năm tháng ở Campuchia thật sự có những lần quá kiệt sức... Của thằng lính trinh sát ! Gian khổ và cái chết không còn tin tưởng nổi nữa ... Hồng nói: Nhớ lại ngày hôm đó vì quá mệt mỏi Hồng có nghĩ đến anh Hậu ! Và đã khấn nguyện ... với anh Hậu: Nếu anh có linh thiêng thì hãy giúp em .
Hoàn cảnh của em, cũng giống như hoàn cảnh của anh ngày xưa là người lính ! Xin anh có linh ... Thì cho em bị thương cái chân để trở về với gia đình . Nhưng đừng để cho em phải cụt chân như những đồng đội của em. Nếu ngày trở về mà không có đôi chân, thì làm sao sống nổi trên miền đất quê nghèo ấy !
Cách đó mấy ngày sau trên đường hành quân Hồng đã bị mảnh mìn cắt qua gót chân. Đúng thật là khó tin ! Một khi đã trúng mìn thì chỉ có cụt giò và mất mạng ! Nhưng bạn tôi đã được may mắn như những lời đã cầu nguyện ...
Nói đến đây tôi nhìn thấy mặt bạn đã hiện lên nhiều cảm xúc ... Hồng nói: Tôi đã chán cái đất này lâu rồi! Đã nhiều lần bỏ đi nhưng rồi lại trở về .
Từ khi biết vợ có nhân tình, đến ngày ly hôn với vợ, tất cả tài sản và nhà cửa để lại hết cho con ... Hồng mang theo một tỷ đồng VN ! Rong chơi khắp mọi miền... Một hôm đang nằm ngủ , mơ thấy có một người mặt đồ lính VNCH đến nói với Hồng: Em hãy nghe anh ! Nên trở về lại quê ... Nơi đó sẽ có cơ hội trong tương lai ...
Khi thức dậy Hồng biết người trong mơ đó chính anh Hậu !
Lần đó Hồng trở về quê, nhưng không về lại ngôi nhà cũ Hồng đi thẳng lên khu đất đã khai hoang . Ở đây bạn chăn nuôi và làm rẩy ... nghe nói đến đây khu này bị giải toả ... Tất cả những diện tích đất bạn Hồng có là : 4000 mét vuông , Cộng thêm mấy hecta đất ruộng nữa !
Nãy giờ nói về bạn Hồng quên nói về chuyện hài cốt của anh Hậu !
Hôm đưa hài cốt anh Hậu về Sài Gòn. Hồng bận việc nên không đi cùng với mọi người .
Cách một ngày sau khi lo việc ở Đà Nẵng xong . Hồng vô liền Sài Gòn. Gia đình anh Hậu xin được thiêu hài cốt gởi vào nhà thờ, vì anh Hậu trước đây có đạo thiên chúa.
Hồng cũng xin phép lại với mọi người. Trước đây Hồng chôn anh Hậu và đã xin gởi về chùa ! Nay nếu gởi về nhà thờ thì hãy cho Hồng xin keo anh Hậu có đồng ý được không. Sau khi Hồng dùng những đồng tiền xin keo, Những đồng tiền đã đúng theo ý của gia đình anh Hậu ! Mọi sự đâu đã vào đó ! Những ngày còn lại Hồng được gia đình anh Hậu xem Hồng như một người con út trong gia đình .
Mấy ngày đó Hồng được nhiều tình yêu thương của gia đình anh Hậu từ Pháp và Mỹ gọi về luôn quan tâm hoàn cảnh cuộc sống của Hồng !!!
Đêm qua sau khi chia tay về , Thu Nguyen có hỏi Hồng một câu: Vì sau số người đó biết Hồng tìm đến? Hồng trả lời: Trong số những người đó , có một anh lính Biệt Kích VNCH đã thoát chết ngay lần anh Hậu bị bắn. Anh đã dẫn gia đình anh Hậu đi tìm hiểu mấy ngày hôm đó ! Và có nghe nói có một anh sĩ quan biệt kích nữa, cũng bị bắn cùng ngày với anh Hậu . nằm quanh khu vực đó .
Tới đây sẽ có một số người ở Mỹ trở về nhờ Hồng đi tìm xác của anh sỹ quan bị chết cùng ngày với anh Hậu .
Đang trong lúc nghe bạn Hồng kể, thì có người bạn nói đùa vô: Vậy từ nay Hồng được phúc dầy từ phương xa rồi ... Tôi cũng nói lên những câu ... Nhưng Hồng đã thừa làm chủ câu nói của tôi : Cuộc sống này tình cảm con người mới trên hết !!! Tất cả chỉ là của tạm ... Hãy sống tốt với tình cảm của người đã khuất ... Để ngày sau ta được mỉm cười.

FB Thu Nguyễn 

Monday, June 10, 2019

Chiến Tranh và Tình Cha - Những Chuyện Thương Tâm

Chuyện Thương Tâm
Nên đọc... Chiến tranh và tình cha.
Chiến tranh kết thúc, người lính chuẩn bị trở về nhà ở San Francisco. Trước khi máy bay cất cánh, anh gọi điện thoại về cho gia đình: Thưa cha mẹ, con sắp về nhà, con muốn xin phép cha mẹ giúp một chuyện...
Nhận tin con trai trở về, cha mẹ anh hết sức vui mừng, người cha hào hứng nói: Con trai , con nói đi. Chuyện gì chúng ta cũng sẵn sàng giúp con.
Con có một người bạn rất tốt, anh ấy đã cứu mạng con trên chiến trường. Nếu không có anh ấy chắc con không thể trở về với bố mẹ. Vậy anh ấy có thể ở cùng chúng ta được chứ ạ ?

Tất nhiên là được rồi con trai. Bạn con thật là tốt bụng. Ta rất biết ơn những gì cậu ấy đã làm cho con và cả gia đình ta.
Cậu con nói tiếp:
" Con muốn bố mẹ biết một điều, bạn con bị thương khá nặng trên chiến trường. Anh ấy bị mất một chân và một tay. Bạn con không có nơi nào khác để đi, và con muốn anh ta về ở chung với chúng ta ".

Người cha ấp úng:
"Thật tội nghiệp cho bạn con. Nhưng có lẽ chúng ta sẽ tìm cách giúp anh ta có một nơi nào khác để sống ".

"Không, thưa bố mẹ, con muốn anh ta ở với chúng ta".
Người cha ôn tồn nói:
"Con trai à! Con không biết con đang đòi hỏi điều gì đâu. Một người khuyết tật như vậy sẽ là gánh nặng rất lớn đối với chúng ta. Chúng ta có cuộc sống riêng của mình và không thể để cho một chuyện như thế này làm đảo lộn hết cả. Cha rất cảm kích bạn con nhưng ta không thể hứa sẽ chăm sóc cho anh ta được. Cách tốt nhất là ta sẽ giúp anh bạn ấy tìm một công việc để tự mưu sinh".

Cậu con trai im lặng cúp điện thoại. Sau đó anh không gọi lại một cuộc nào nữa, họ tìm kiếm anh khắp nơi, nhưng vẫn bặt vô âm tín...
Một thời gian sau, cha mẹ anh nhận được điện thoại của cảnh sát San Francisco thông báo rằng con trai họ đã rơi từ một toà nhà cao tầng xuống và chết. Cảnh sát cho hay rất có thể đây là vụ tự tử.
Cha mẹ anh đau đớn đi nhận diện thi thể con trai. Họ nhận ra anh, người con trai yêu quý của mình, chết lặng không thốt nên lời khi nhìn thấy một điều mà trước đó họ không hề hay biết: con trai của họ chỉ có một cánh tay và một chân.
Những giọt nước mắt ân hận rơi xuống, nhưng tất cả đã quá muộn màng...
*
Thực ra, con người chúng ta thường sống khá ích kỷ. Ta có thể dành tình yêu thương vô hạn cho người thân của mình, nhưng luôn cần đến điều kiện để quý mến một người lạ. Ta cũng thường chỉ yêu mến những người tài năng, xinh đẹp, bảnh bao... và có xu hướng tránh xa những người nghèo khổ, yếu đuối, tàn tật...vì sợ phiền phức. Giá như mỗi người chúng ta đều có thể dành sự bao dung và nhân ái cho những người lạ như chính người thân của mình, thì thế giới này sẽ tốt đẹp biết nhường nào...
Với lòng bao dung nhân ái, chúng ta đủ sức mài mòn hòn đá vô tri thành viên ngọc lung linh toả sáng, đủ sức biến điều khó khăn trở nên dễ dàng, đủ sức biến một người tầm thường hay tàn khuyết thành vĩ nhân. Bởi vì, tất cả mọi phép màu trên thế gian này đều bắt nguồn từ trái tim, đừng bao giờ để cuộc đời bạn phải hối hận vì sự ích kỷ, vị tư. 

ST on FB 

Tuesday, June 4, 2019

KỂ CHUYỆN VỀ LÍNH BIỆT KÍCH

Hồi mặt trận An Lộc, báo chí có nói tới hai câu thơ của cô giáo Pha viết trên bức tường của một ngôi trường bị bom đạn đã làm đổ sụp:

An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân
 

Tôi tuy cũng là quân nhân đối diện với cái chết thường xuyên, nhưng với những Binh chủng oai hùng như Biệt Động Quân, Nhảy Dù hoặc Thủy Quân LụcChiến thì lòng rất ngưỡng mộ; còn về Biệt Cách Dù thì cũng từng nghe thấy báo chí đề cập tới Liên Đoàn 81, nhưng cũng không biết đơn vị này thuộc lực lượng nào và do ai chỉ huy, đóng quân ở đâu v.v… Hồi qua núi Sơn Trà, Đà Nẵng đi đổ toán thì chỉ biết tại đây có trại Lôi Hổ, họ ăn mặc quần áo kaki Nam Định của lính chính quy Bắc Việt, trang bị AK báng xếp, những toán viên mặt lạnh như tiền, ngồi im lìm không hề gợi chuyện với ai, kể cả với phi hành đoàn. Rồi cách đây gần 10 năm, khi tôi đang đổ lại miếng cement đằng trước nhà, thì thấy có ba người trạc bằng tuổi tôi, mà lại đi với mấy bà vợ, nhòm nhòm ngó ngó như muốn tìm nhà để mướn, nên tôi chào hỏi. Họ cũng đứng lại nói dăm ba câu chuyện và tỏ thực là dân H.O. mới qua, giờ sống chung trong căn Apartment chật chội quá, muốn đi thuê căn nhà cho thoải mái hơn. Tôi hỏi các anh bị tù bao lâu. Họ đáp có người 20 năm, có người 30 năm. Tôi ngạc nhiên hỏi vặn, vậy chớ các anh cấp cao lắm hay sao mà ở lâu vậy? Họ nói là bị ở lâu là vì bị bắt ngoài Bắc hồi năm sáu mấy mà đến gần cuối thập niên 90 mới ra. Sau cùng tôi mới vỡ lẽ là họ thuộc toán nhảy ra Bắc. Vì công việc cũng đang cần người, nên tôi có nhận một anh đi làm chung. Nghe nói về quá khứ của anh, người bạn tôi cũng kể là hồi xưa anh ta là Hạ Sĩ Quan đi học lớp Truyền Tin, trong đó có một Nữ Quân Nhân, sau này cô ấy nhảy toán ra Bắc và bị bắt ở ngoài đó. Anh Bạn Biệt Kích trầm ngâm rồi nói rằng: - Không có đâu anh. Nhiều người thuộc lực lượng khác, có khi họ chỉ nhảy trong nội địa hoặc qua bên kia biên giới Miên, Lào. Những toán nhảy Bắc tôi biết tên hết vì bị nhốt chung với nhau khá lâu, mà khi huấn luyện ở căn cứ Long Thành thì cũng biết nhau nữa. Nữ toán viên không có người nào đâu, và nếu có cũng không có ai bị bắt. Sau này tôi đọc bài viết của ông Phan Lạc Phúc, có đề cập tới Người tù Kiệt Xuất Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện cũng nhảy toán ra Bắc rồi bị bắt. Tôi tìm hiểu qua anh bạn tôi, nhưng anh chỉ là một toán viên thường nên kiến thức tổng thể về đơn vị không có nhiều, vì thế tôi vẫn còn mù mờ về lính Biệt Kích. Cho đến hôm nay, nghe anh Lôi Hổ Nguyễn Hữu Thọ kể lại, tôi mới biết nhiều về lực lượng này.
Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mang một cái tên rất hiền lành là Sở Khai Thác Địa Hình do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, nhưng đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tổng Thống hoặc ông Ngô Đình Nhu. Trong cơ cấu tổ chức của sở thì có phòng E hay phòng 45 đặc trách nhiệm vụ tình báo bên kia vĩ tuyến 17 thường được gọi là Sở Bắc. Toán ra Bắc thường là ba bốn người, nhưng cũng có những toán một người về qua ngả chính thức từ Lào, Miên hay Pháp… dưới vỏ bọc là Việt Kiều.
Đầu năm 63, Sở Khai Thác đổi thành Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt với hai Liên Đoàn 77 và 31. Sở Bắc vẫn duy trì và phối hợp với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Chính biến 1-11-63 xẩy ra và Đại Tá Tung bị giết chết vì không chịu phản bội Tổng Thống Diệm. Sau đó Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt bị chuyển ra đóng ở Nha Trang. Sở Bắc được tách ra khỏi Lực Lượng Đặc Biệt lấy tên là Sở Khai Thác đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu. Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Hổ và các Cố Vấn Mỹ của MACV. Cùng thời gian này Sở Liên Lạc được thành lập với nhiệm vụ hoạt động xâm nhập ngoại biên trên đất Lào và Campuchia. Các toán Thám Sát được gọi là Lôi Hổ (Thundering Tiger). Chỉ Huy Trưởng của Sở Liên Lạc là Đại Tá Hồ Tiêu và đơn vị đóng gần sân banh Quân Đội cạnh Bộ Tổng Tham Mưu. Tóm lại, Sở Bắc (Sở Khai Thác) là toán Biệt Kích nhảy ra ngoài Bắc, Sở Liên Lạc là toán Lôi Hổ nhảy qua Lào và Miên. Cả hai Sở này thuộc Nha Kỹ Thuật, còn Biệt Kích Delta cũng là toán Lực Lượng Đặc Biệt, nhưng nhảy trong nội địa. Đến năm 1971 thì sự yểm trợ của Mỹ giảm bớt rất nhiều nên Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Nha Kỹ Thuật gom lại thành những sở sau đây: - Sở Liên Lạc - Sở Không Yểm (liên quan đến Không Quân) - Sở Phòng Vệ Duyên Hải (Hải Quân và Người Nhái) - Sở Tâm Lý Chiến (Đài Phát Thanh Mẹ Việt Nam và Đài Gươm Thiêng Ái Quốc) - Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành) - Sở Công Tác gồm Đoàn 11 và 68 đã có từ trước và khi Lực Lượng Đặc Biệt giải tán thì lập thêm Đoàn 71, 72 và 75. Bây giờ tôi xin nói về Biệt Cách Dù: - Trước Mậu Thân 1968 Lực Lượng Đặc Biệt có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. Tiểu Đoàn này hoàn toàn là lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của Việt cộng thì thường gọi Không Quân đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa. Hồi Mậu Thân, vị Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Cách 81 là Thiếu Tá Quế đã tử trận. Sau 1970, Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, các căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt dọc biên giới đổi thành Tiểu Đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại. Các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Nha Kỹ Thuật , hoặc Biệt Động Quân còn thì về Biệt Cách Dù hết. Lúc này Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của Lực Lượng Đặc Biệt từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu Lực Lượng Đặc Biệt còn bên kia là Biệt Cách Dù. Như vậy Lực Lượng Đặc Biệt chính là tiền thân của Biệt Cách Dù. Bây giờ trở lại với các Chiến Đoàn Xung Kích của Lôi Hổ: - Chiến Đoàn 1 thường nhảy qua vùng thượng Lào, từ Đông Hà theo đường số 9, bay ngang Khe Sanh mà vượt biên giới. Nơi đây đồi núi chập chùng nên khi đã nhảy xuống đất rồi thì di chuyển rất khó khăn. Các máy bay H34 cổ lỗ sĩ của Phi Đoàn 219 lại tỏ ra rất hữu hiệu, nhất là khi bốc hay đổ toán. Nó có động cơ nổ 10 máy nên chịu đạn "chì" hơn loại UH bán phản lực sau này. Thường thì sau khi đã có Sĩ Quan Tiền Không Sát đi chụp hình bãi đáp ngày hôm trước bằng phi cơ quan sát, cả toán Lôi Hổ, Chỉ Huy Trưởng và Trưởng Phi cơ đã vào phòng thuyết trình Hành Quân, và khi đầy đủ Trực Thăng Võ Trang hay khu trục hộ tống, thì 3 chiếc H34 sẽ vào vùng, họ bay rất cao và chiếc chở toán sẽ cúp ga, làm một cú lá vàng rơi xoắn ốc cho đến gần mặt đất mới tăng ga để đáp. Làm Auto Rotation như thế thì mới tránh khỏi bị bắn rơi, những tay Pilot phải rất giỏi và kinh nghiệm đầy mình. Đổ quân vùng này thì ngoài sự đối đầu với cán binh Bắc Việt, còn đôi khi phải chơi luôn cả phe Pathet Lào nữa. Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào Kingbee Bùi Tá Khánh
Chuyện về cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào nhằm cắt đứt đường mòn HCM đã được nhiều người viết ra. Ðầu tiên là nhà văn Phạm Huấn với quyển "Trận Hạ Lào năm 1971", rồi nhà văn nhảy Dù Lê Ðình Châu, Đại Úy Đại Đội Trưởng Đại Đội công vụ nằm vòng đai bảo vệ cho Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù trên đồi 31 cũng ra mắt quyển "Ðôi mắt người Tù Binh", và anh Nguyễn Văn Long, Thiếu Úy sĩ quan phụ tá ban 2 Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù vẫn thường xuyên viết về Hạ Lào cho Ðặc San Nhảy Dù ở Úc Châu.
Ở đây, tôi chỉ ghi lại câu chuyện như là một mẩu hồi ức dưới mắt nhìn của một người lính Không Quân. Tôi là một hoa tiêu phục vụ trong Phi Đoàn 219, thuộc Không Ðoàn 51, Sư Ðoàn I Không Quân trú đóng tại Ðà Nẵng. Phi Đoàn 219 là hậu thân của Biệt Đoàn 83 với nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh thầm lặng trong bóng tối nhằm gây rối, phá hoại hậu phương của địch. Vì thế tất cả phi cơ của Phi Đoàn 219 chỉ sơn toàn bệt màu đen và xanh lá cây xẫm bên trên phần bụng trắng và không mang phù hiệu hay cờ gì cả ngoài số serial number mà thôi. Là một Phi Đoàn chỉ thi hành những phi vụ đặc biệt ngoài lãnh thổ và ngoài những cuộc hành quân bình thường, nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, nằm trong kế hoạch được mệnh danh là Việt Nam hoá chiến tranh, một cuộc hành quân quan trọng lần đầu tiên hoàn toàn do Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đảm nhiệm với sự yểm trợ tối thiểu của không lực Hoa Kỳ trong những ngày đầu với những loại trực thăng khổng lồ chuyên chở những xe cơ giới hạng nặng như xe ủi đất, lô cốt tiền chế, đại pháo 105 và 155 ly để Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà dọn bãi thiết lập những căn cứ hoả lực đầu cầu trên đất Lào. Vì thế nên Quân Ðoàn I đã phải trưng dụng tất cả những đơn vị Không Quân trực thuộc Sư Ðoàn I Không Quân trong đó có Phi Đoàn 219. Như vậy Phi Đoàn chúng tôi, ngoài những phi vụ đặc biệt thường lệ, lại phải đảm nhiệm thêm việc yểm trợ cho Sư Ðoàn Dù, một trong 3 lực lượng nòng cốt trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Mỗi ngày Phi Đoàn 219 tăng phái một Phi Đội gồm 2 hoặc 3 chiếc H34 nằm trực chiến tại Khe Sanh, nơi đặt bản doanh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Ðoàn Dù. Từ đây chúng tôi xuất phát những phi vụ tiếp tế lương thực, đạn dược cho các căn cứ hoả lực 29, 30, 31 và các đơn vị hành quân lục soát bên ngoài căn cứ. Những phi vụ này thường là rất "hot", nhưng "hot" nhất vẫn là những phi vụ tải thương cho binh sĩ Nhảy Dù khi có đụng độ với quân cộng sản Bắc Việt. Và chuyện này xảy ra như cơm bữa hàng ngày nên chúng tôi coi như pha. Chúng tôi cứ luân phiên nhau mỗi Phi Đội trực chiến cho Sư Ðoàn Dù 4 ngày rồi trở về Ðà Nẵng tiếp tục những phi vụ thường nhật.
Hôm nay đến phiên trực của chúng tôi. Phi Đội gồm có 2 phi cơ do anh Chung Tử Bửu lead, tôi copilot và Nguyễn Văn Em là mê vô, chiếc thứ hai tôi chỉ nhớ hoa tiêu chánh là anh Yên. Chúng tôi vào Phi Đoàn nhận lệnh vào lúc 8 giờ sáng rồi chia tay nhau về nhà sửa soạn hành trang, hẹn gặp nhau lúc 10 giờ ngoài phi đạo 219.
Ðúng giờ hẹn, chúng tôi ra phi cơ làm tiền phi, check nhớt, xăng, load những cơ phận sửa chữa dự trữ, đồ nghề và anh em kỹ thuật 219 rồi cất cánh, trực chỉ Ðông Hà, Quảng Trị. Khoảng quá trưa thì chúng tôi ra đến Khe Sanh. Vừa đến nơi, không màng ăn trưa vì nóng lòng muốn cứu đồng đội nên chúng tôi quyết định phải vào ngay đồi 31 chứ không thể đợi lâu hơn được. Trong khi anh Bửu vào trình diện với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn Dù để đặt kế hoạch cho chuyến bay thì tôi và mê vô Em đi check lại máy bay. Xăng vẫn còn đầy bình trước, dư sức bay không cần phải refuel. Một lát sau từ phòng briefing ra, anh Bửu vắn tắt cho anh em biết về phi vụ quyết tử này. Chuyến vào chúng ta sẽ chở theo một Tiểu Đội Tác Chiến Điện Tử Dù cùng với 18 chiếc máy "sensor" vào tăng phái cho căn cứ 31 dùng để phát giác đặc công địch, chuyến ra sẽ rước Phi Hành Đoàn anh Nguyễn Thanh Giang về. Mười lăm phút trước khi lên vùng, pháo binh Dù sẽ bắn dọn đường mở một hành lang dọc theo quốc lộ 9, dập vào những địa điểm được ghi nhận có phòng không địch vì tình hình lúc này rất gây cấn, địch tập trung lên đến cấp Tiểu Đoàn phòng không gồm đủ loại từ 37 mm, 12 ly 7 và lần đầu tiên còn nghe có cả SA7 nữa. Về không trợ thì có 2 chiếc Gunship của Phi Đoàn 213 do Trung Úy Thục bay trước mở đường. Trước đó trong lúc briefing, anh Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với anh Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng anh Giang đã dùng chiến thuật "lá vàng rơi", từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù. Phi Hành Đoàn vô sự, chỉ có copilot là Võ Văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, mê vô Trần Hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa. Rút kinh nghiệm, hôm nay anh Bửu bay Rase Motte sát ngọn cây theo hướng Ðông-Tây đi vào. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9 tôi còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh Dù bắn rất chính xác và hiệu quả. Gần đến Landing Zone, anh Bửu đổi hướng lấy cấp Ðông Nam-Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây, tôi đã thấy chiếc Gunship của Trung Úy Thục bay vòng lại, cùng với tiếng anh la lên trong máy "Bửu coi chừng phòng không ở hướng Tây". Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn đồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích quấy phá của cộng quân Bắc Việt. Không nao núng, anh Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng một tràng đạn phòng không, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, mê vô Em la lên khẩn cấp trong máy "Đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy". Cùng lúc anh Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc wing "Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa" trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là đạn trúng vào bình xăng phụ đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên phi cơ không bắt cháy như phi cơ Đại Úy An ở Bù Ðốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản xạ tôi cùng anh Bửu nhanh tay tắt gió, xăng, điện rồi nhảy ra khỏi phi cơ. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của Đại Đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước. Tôi còn tiếc chiếc xách tay quần áo nên phóng vào trong phi cơ để lấy. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngửa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy "sensor" vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chỉ kịp vớ lấy cái xách tay rồi phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù "trên đây nè Thiếu Úy, tụi tôi bắn yểm trợ cho". Tôi lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc chóc trên đầu. Lên đến nơi tôi thở như bò rống. Không quân mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971. Vừa ngồi nghỉ mệt, tôi vừa nhìn xuống bãi tải thương nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc địch điều chỉnh tác xạ, một quả đạn đạn súng cối rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy khói đen mù mịt cả một góc trời. Tôi nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã gần gụi với mình lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn. Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, chúng tôi men theo giao thông hào lần về đến Ban Chỉ Huy Lữ Ðoàn 3 Dù. Gặp lại Phi Hành Đoàn anh Giang, On, Sơn anh em chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi rối rít. Chúng tôi được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Ðoàn 3. Ðầu tiên là Đại Tá Thọ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Ðoàn 3, Thiếu Tá Ðức Trưởng Ban 3, Đại Úy Trụ phụ tá Ban 3, Đại Úy Nghĩa sĩ quan liên lạc Không Quân, Trung Úy Chính sĩ quan Không Trợ Dù, Thiếu Úy Long phụ tá Ban 2. Về phía Pháo Binh thì có Trung Tá Châu Tiểu Đoàn Trưởng và Đại Úy Thương Trưởng Ban 3 thuộc Tiểu Đoàn 3 pháo binh Dù. Ðại Tá Thọ mừng anh em "mới đến" mỗi người một điếu Havatampa và một ly Hennessy để lấy lại tinh thần. Tôi ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy "ông" Nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống rượu Mỹ như máy! Quả các anh ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng chì thật. Buổi chiều vùng rừng núi trời tối thật nhanh, chúng tôi dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Ðoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tôi được ngủ chung một hầm với anh Nguyễn Quốc Trụ, một sĩ quan trẻ xuất thân khoá 20 trường Võ Bị Ðà Lạt. Anh cũng là anh ruột của Trung Úy Nguyễn Hải Hoàn, một hoa tiêu chánh trong Phi Đoàn tôi. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ 31 với ý định đánh bật căn cứ này ra khỏi sinh lộ của chúng. Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì địch quân luôn di động dàn phòng không của chúng khiến Không Quân Việt Nam và Hoa Kỳ không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom vài khu vực khả nghi chung quanh đồi 31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B52 rải thảm ì ầm xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào rừng núi trùng điệp. Ngược lại, quân bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù. Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, chúng tôi nhận được lệnh và khởi sự di chuyển ra các hầm cứu thương sát bãi đáp chờ đến trưa đích thân Phi Đoàn với 3 chiếc H34 sẽ vào tải thương binh Dù đồng thời bốc 2 Phi Hành Đoàn ra. Tôi và anh Bửu cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Ðến trưa khi chúng tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận "tiền pháo" dồn dập lên đồi 31. Qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, tôi thây rõ hai chiếc xe tăng T-54 của cộng quân tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc chung quanh nhắm đỉnh đồi chúng tôi mà nhả đạn. Những tia lửa từ nòng súng phụt ra, tôi và anh Bửu thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhở câu mà anh em trong Phi Đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ!". Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào xe tăng địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc T54. Nhưng để trả giá cho hành động dũng cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả Pháo Đội Trưởng Nguyễn Văn Ðương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Chúng tôi vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 xe tăng khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi chúng tôi mà bắn! Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình địch, và lại phá hủy thêm 2 xe tăng nữa. Trong tiếng bom đạn tơi bời, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 đang vần vũ trên cao như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì địch tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, tôi và anh Bửu tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm. Về phía Không Quân, tôi, anh Bửu, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và bị dẫn giải ra Bắc Việt chung với tất cả tù binh khác. Không thấy anh Giang và Em đâu. Chúng tôi bắt đầu thăm hỏi các Sĩ Quan và binh sĩ Dù trên đường đi. Cuối cùng tôi gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các anh ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần mê vô Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn Em gục chết ở bên đường. Thế là 219 ghi thêm vào quân sử của mình một thiệt hại 2 Phi Hành Đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên đồi. Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 Phi Hành Đoàn đó là Bửu, On, Khánh và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không? Viết để nhớ đến tất cả những chiến sĩ anh hùng đã thành danh hay vô danh, vẫn còn sống hay đã hy sinh cho quê hương đất nước. Sau 33 năm ít ra tên tuổi các anh vẫn còn được nhắc đến một lần.  
Bùi Tá Khánh

Monday, June 3, 2019

Old Pictures - Old buddies

 John Myers and Hòa Phạm at Wounded Veterans (Pendleton) Oceanside California

 John, Hiệp, Recon Team and The General 

USMC Colonel Hayes and Hoa Pham Pendleton, California

 Team Idaho CCN


 SOG Re-union Las Vegas

 Recon Team CCN

Special Operations Association









Sunday, June 2, 2019

"The Billionaire Green Beret " - John Walton

Former SOG soldier, John Walton, was the son of Sam Walton, who founded the Wal-Mart discount store chain that became one of the world’s biggest companies. Unlike his father, Walton didn’t pursue a business career. He attended the College of Wooster in Wooster, Ohio, dropping out after two years. He then joined the Army and served in Vietnam. But his duties were far from ‘regular.’ He was a Special Forces soldier in a unit code-named the Studies and Observations Group, or SOG (cover for "special operations group"), a secret, elite military unit that often operated in Laos, Cambodia and North Vietnam in what had been called America’s “Secret War.” Walton joined the unit in 1968, right after the Tet offensive. He became a member of a SOG “Hatchet Force” which consisted of small cross border teams generally made up with two or three Americans and up to five Indigenous troops; sometimes South Vietnamese, sometimes Montagnards and sometimes Chinese Brue, but always very capable, loyal and fierce warriors who knew how to operate in the jungles with stealth and outstanding bravery. On almost every mission there was a firefight. A particularly horrifying battle occurred in the A Shau Valley in Laos while he was assigned to ST (strike team) Louisiana. The team mission was to find a fellow Green Beret who had been separated from his team when it was forced to evacuate after running into a large enemy force. John was the commando team's No. 2 as well as its medic. In the low light of early morning, ST Louisiana was dropped from Sikorsky H-34 helicopters onto a ridge near the DMZ and was attacked by North Vietnamese army soldiers. In a memoir titled Across the Fence: The Secret War in Vietnam, fellow Green Beret John Stryker Meyer gives an account of that day: "Four of the NVA's rounds struck the tail gunner, wounding him severely. As Walton swung his CAR-15 [a submachine gun version of the M-16] toward the enemy soldier ... [his] rounds hit the NVA soldier and drove him back in the jungle." The account goes on to say that Walton's commanding officer, Wilbur "Pete" Boggs, called in a napalm strike that landed yards away from John. Soon the six-man team was surrounded. One was dead and three were wounded. John tended to casualties, including Boggs, who was knocked semiconscious by shrapnel, and Tom Cunningham, who was badly hurt with a knee that was blown out and started hemorrhaging very, very severely. Walton applied a tourniquet to his leg to stop the severe hemorrhaging. With Boggs down, Walton was now in charge. He picked up the radio and called in two choppers for extraction. As the first Sikorsky H-34 (King Bee) dropped in and lifted off with some of the men, the NVA intensified its assault. A second chopper was needed to get all the men out, but the landing zone was too hot to make it in. Walton and his team thought they were doomed, but suddenly the first chopper came back down, even though their added weight might make it too heavy to take off again. With the enemy advancing into the clearing, firing at the helicopter, and Walton trying to keep Cunningham alive, the King Bee took off and barely made it over the treetops. Credit: Together We Served
 
 John Walton RIP of the Wal Mart Walton's
Extracted from Page 119, On The Ground, by John Stryker Meyer & John E. Peters
A personal side to John Walton

The headlines announcing the tragic death of John Walton focused on the personal fortune he had amassed as the second of three sons of American icon and entrepreneurial pioneer Sam Walton, the founder of Wal-Mart.
Since 1968, the John Walton I knew was first and foremost a family man ---- when his father was dying of cancer, he flew around the world searching for remedies to the disease that ultimately claimed Sam Walton's life.
He was an intelligent free spirit who went his own way in life ---- becoming a Green Beret medic and succeeding in the businesses he started while extolling the virtues of charter schools.
Yet, the man who died Monday when his ultra-light aircraft crashed in Grand Teton National Park, was the same, humble, caring man I first met 37 years ago in Phu Bai, South Vietnam.
In the early days of our friendship, we exchanged family notes: my dad was a milkman, his dad "had a five-and-dime store" in Bentonville, Ark., and we had strong, no-nonsense moms.
In May 1968, we were young Green Berets who had just entered the secret war that was fought during the Vietnam War. We were stationed at FOB 1 in Phu Bai as members of small reconnaissance teams that ran top-secret missions across the fence into Laos, Cambodia and North Vietnam.
In August of '68, on one such mission, Walton's six-man recon team was surrounded and overrun by enemy soldiers. The attack was so fierce, the team leader called an airstrike on his team to break the enemy attack. That strike killed one team member, wounded the team leader and severed the right leg of the Green Beret radio operator Tom Cunningham Jr., of Durham, N.H. Another team member was wounded four times by AK-47 gunfire by an enemy soldier whom Walton killed.
A South Vietnamese helicopter pilot, Capt. Thinh Dinh, landed and picked up the five living members of the team while under heavy gunfire and barely extracted the team from its sure-death firefight with hundreds of enemy soldiers.
As '68 rolled along, our friendship grew as we became strong competitors in Scrabble, poker and impromptu football games.
He also shared his dreams: he said that if he lived, he would return to the U.S., buy a motorcycle and drive across country. Then, he'd get his pilot license, find a job and explore Mexico and Central and South America.
He pursued those dreams with vigor, eventually becoming a crop-duster for six months a year, while driving his VW bus south, into and through Mexico. During those years, I'd called his mom for John's latest phone number while my mom would get calls from John. By the '80s, as Wal-Mart became a force to be reckoned with, John went his own way, building several success businesses while living with his wife, Christy, on a trimaran before they bought a sailing captain's historic house in National City. They also had a beach in North County.
John Walton also cared about the environment. When we met for a recent breakfast in Oceanside, he drove a small Toyota hybrid.
And, he remembered his comrades from Vietnam. In 2003, he flew his executive jet to Fargo, N.D., to pick up now-Col. Thinh and family to fly them to a reunion in Las Vegas that honored the Vietnamese pilots who operated in the secret war.
That's the kind of guy he was ---- one who cared more about others than himself.
J. Stryker Meyer can be reached at (760) 901-4089.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
The following is from
SOG...THE Secret War's of America's Commandoes in Vietnam by  John Plaster; however it contains a number of errors including putting John on the wrong team. The article by J. Stryker Meyer above contains the correct information.

On 3 August 1968 a reconstituted RT Idaho, led by One-Zero Wilbur Boggs, inserted into the Ashau Valley about ten miles from where the old RT Idaho had vanished on 20 May. Boggs' One-One, Specialist Four John Walton, was an accomplished poker player, friendly, intelligent and a talented medic capable of surgery. Idaho's One-Two was a new man, Private First Class Tom Cunningham.
Not long after insertion, swarms of NVA descended on RT Idaho, and soon One-Zero Boggs was seriously wounded, two 'Yards' were dead and the team immobile, hopelessly encircled by NVA so close Walton could see smoke from their cigarettes. With the team about to be overrun, young Walton did the only he could and called an air strike practically on top of RT Idaho, which hit friend and foe alike.
The NVA pulled back. It took every bit of Walton's medical skill to keep his wounded teammates alive, though Tom Cunninham would lose a leg. That anybody made it out is attributable to Walton's courage, cool head and medical ability. He was awarded the Sliver Star.
Back home in Arkansas, the young Green Beret's enterprising father was transforming his drugstore chain into the world's largest family owned retail system--Wal Mart --

A time to be born, a time to die;
A time to plant, a time to reap;
A time to kill, a time to heal;
A time to laugh, a time to weep.
A time of love, a time of hate;
A time of war, a time of peace;
A time for peace, I swear it's not too late.


Lonnie Heidtke
CE Black Widow 474
C/101st AHB 68-69
Chippewa Falls, WI