Monday, March 30, 2026

SAU THÁNG TƯ 1975, ĐỜI TRĂM NGÀN NHÁNH KHỔ…

Sau 75, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng ? Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế.
Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.
Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm,…Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược. Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế…Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời..
Tôi chợt nhớ những ngày sau Tháng Tư 75, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.
Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn- Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết. Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.
Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt. Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.
Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc. Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5-7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe. Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em… Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 75, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon,… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la Mỹ…
Năm 78, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, quý phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C.V.Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.
Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu-Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.
Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 75 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?
Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế ! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre,…
Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?
Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.
Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần,… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?
Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ,có khi chẳng mua được thứ gì. Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ,… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.
Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo. Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi!
Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên,bà này chắc có căn phần phúc đức.
Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.
Sắp vào Tháng Tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.
Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm. Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 75 là như thế đó, lòng dạ nào yên?
Đời trăm nghìn nhánh khổ, nhánh nào cho người, nhánh nào cho mình? Năm 75 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi….
Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…”.
VŨ THẾ THÀNH

Sunday, March 29, 2026

NHỮNG KÝ ỨC THƯƠNG ĐAU !

Vào ngày này của 51 năm về trước...
Lúc đó đã ngoài giờ làm việc , trời rất là oi bức!…Mặc dù cách đây đã nửa thế kỷ, tôi vẫn còn nhớ rõ hình ảnh của đại tá Thái bá Đệ( đã mất) không đoàn trưởng 61 chiến thuật, đặc trách ba phi đoàn phản lực A37 và một phi đoàn chiến đấu F-5 tại Đà-nẵng. Ông chỉ mặc độc nhất cái quần lính, mình để trần mồ hôi nhể nhại ngồi sau chiếc bàn nhỏ đặt ở ngoài hành lang BCH không đoàn. Có khoảng 20 người, đa số mặc đồ bay đứng nối đuôi nhau thành hàng dài, trên tay mổi người cầm tờ giấy chờ ký, tôi đứng đằng sau cùng…Không nghe ai nói chuyện với ai, dáng mặt đăm chiêu, không khí cho thấy sắp xảy ra một biến cố lớn!...
Giữa lúc làn sóng người di tản từ Húê vô bít kín cả đường đèo Hải-vân. Tr/tá Phạm đình Anh, phi đòan trưởng 538 từ Biên hoà (nguyên PĐ về học F-5E ) cho phép tôi và th/úy Nguyễn-Thi lái chiếc pick-up ra ngoài đó đón người thân. Đoạn đường chỉ có 105 km, tức khỏang 70 miles mà phải mất hai ngày hai đêm mới về lại được, không có thời gian để kể, nhưng qúy vị cũng hiểu, gian khổ và nguy hiểm tới mức nào ! Húê lúc đó đã trở thành một thành phố chết, hầu hết đã bỏ nhà cửa ra đi chỉ còn lại một số rất ít. vô phương! đứng ngoài đường chụm thành từng nhóm, nhìn theo xe chúng tôi chạy qua với ánh mắt khao khát. Tôi không thấy bóng dáng một người lính VNCH nào, cũng chẳng biết VC đang ở đâu?.Ngày hôm sau (26-3-75) thì nghe tin Huế mất..
Sắp xếp chổ tạm trú cho người nhà ở ngoài phố xong là tôi vào ngay phi đòan. Gặp Tr/tá Lê xuân Lan không đoàn phó tại khu trực F-5 Alert-pad (căn nhà tứ giác nằm giữa sân đậu máy bay F-5 gần sát phi đạo để hoa tiêu trực không chiến cất cánh cho nhanh). ông cho biết đã xin được một C130 chỉ ưu tiên dành cho KĐ61, khỏang 10 giờ tối hôm nay sẽ đáp xuống Đà nẵng, nhớ giử kín! Tôi liền trở lại phi đoàn nhờ văn thư đánh gấp một danh sách gồm 16 người, rồi lập tức mang đến đây.
…Cuối cùng tới lượt tôi, Đ/tá Đệ, một tay cầm tấm bìa cứng quạt, quạt. một tay cầm cây viết, ngước nhìn tôi vẫn tươi cười, nhưng ánh mắt thật buồn bả.. “ A! còn Lê Phiếu đây rồi..”nói xong ông đặt bút ký liền rồi đưa cho người lính đứng bên đóng dấu, anh này lại ăn mặc rất chỉnh tề, áo bốn túi thẳng nếp..Tôi nhận thấy nơi Đ/tá hôm đó có cái gì lạ lạ, không giống ngày thường, hình như ông đã đoán biết trước việc gì sẽ xảy ra và đây là lần cuối.. giúp được cái gì cho đàn em là làm ngay!
Cầm tờ giấy có khuôn dấu và chử kỹ của Đ/T Đệ, người lớn thì kèm theo thẻ căn cước, con nít khỏi. QC cho vô cổng ngay. Khi đi qua trạm gác khu trực alert-pad, Hưng trâu ( bay A37) lên đạn “róc,róc”, tôi bận lái xe, chưa kịp trả lời thì bà xã tôi đã nhanh nhẩu “xe anh Phiếu, xe anh Phiếu”. Vừa vào tới nơi đã thấy đám đông khỏang hơn trăm người đang tập trung ngay trước sân khu trực alert-pad. Tôi loáng thoáng thấy Hồ Ba phi đội trưởng của tôi lúc đó cũng có mặt với một số người nhà, không biết anh trở ra đà nẳng hồi nào? Bà con ban đầu còn nhốn nháo, nhưng chỉ một lúc rồi cũng được sắp xếp thứ tự theo sự điều khiển của th/tá Hồ kim Giàu và tr/tá Lê xuân Lan (được biết hai niên trưởng kính mến cũng bị kẹt lại và đi tù ngoài Bắc hơn 15 năm). Anh em phi đạo không biết do lệnh ai hay tự nguyện, đã kéo “rúp” (máy thổi hơi start cho F5 nổ máy) làm hàng rào ngăn chận người ngoài xâm nhập.
Qua khỏi mười giờ, rồi mười hai, vẫn không thấy động tĩnh, tr/tá Lan tiếp tục liên lạc và hứa hẹn, đám đông bắt đầu mất dần hy vọng, nhưng vẫn ngồi yên giử chổ, mắt nhắm nghiền vì qúa mệt mỏi ...tội nghiệp cho mấy ông bà cụ gìa và đàn bà thai nghén trong đó có ba mẹ tôi,bà nội vợ, bà xã tôi đang có bầu, lạị vừa mới trải qua cuộc hành trình một ngày và một đêm đầy gian nan từ Húê vô..
Phòng trực alert-pad lúc đó vẫn rực sáng,máy lạnh vẫn chạy đều. xuyên qua kính cửa sổ tôi thấy anh em biệt đội không biết đang chơi bài, tán dốc hay nhắp cà phê ? vẫn cười nói vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra..chỉ độc nhất một mình th/tá Nguyễn v Cổn, biệt đội trưởng từ Biên hòa ra tăng phái, tay cầm bình nước trà và cái tách nhỏ, đi lui đi tới nơi cái hành lang, lối vào nhỏ xíu của khu trực…thấy tôi, th/tá bước xuống và tiến lại gần vẫn cái bình trà trên tay; nhưng lần này có hai cái tách, th/tá Cổn ra dấu đem mời ba mẹ tôi hoặc bà con ai đó. Ông không nói gì hết, chỉ khẻ lắc đầu, nhưng tôi đã đọc được ngụ ý ông muốn nói “chiến tranh khổ qúa phải không?” tôi lại nhìn vào phòng trực, chỉ trong một phạm vi nhỏ thế này mà đã chia thành hai ranh giới.
Đến hơn một giờ sáng…vẫn chưa có dấu hiệu gì xảy ra, đám người vẫn ngồi bất động, không ai giống ai, tuy cùng một tâm trạng, nhưng có lẽ mỗi người đang đeo đuổi một ý nghĩ riêng… Th/tá Giàu và tr/tá Lan biến đi đâu mất. Tôi cũng lửng thửng tản bộ về phi đoàn, dù không với mục đích gì hết..nhưng đúng là số xui tận mạng! Giữa đêm khuya tĩnh mịch, đèn vẫn sáng, không một bóng người, tôi bước từng bước chậm theo lối vào, ngước nhìn từng tấm ảnh lớn của mổi hoa tiêu treo trên vách tường màu hồng, tay cầm nón bay tươi cười đứng bên chiếc F-5. Lúc bấy giờ tất cả anh em đang ở Biên-hòa học
F-5E và tôi biết rõ, họ sẽ không bao giờ còn trở về nơi đây nữa… chỉ độc nhất mình tôi và đây cũng là lần cuối cùng ! mắt tôi đỏ hoe theo ý nghĩ đó khi quay lưng từ biệt.
Vừa bước ra khỏi cửa thì cái điện thoại, tôi vẫn còn nhớ số 2633 reo vang.. giọng của một ông bạn không thân lắm tên T từ bên kia đầu dây, cầu khẩn tôi gíup đỡ..với bạn bè dù bất kỳ ai và trong hoàn cảnh nào, tôi rất nhiệt tình. Và tôi đã hứa..liền cấp tốc lái xe pick-up ra một địa chỉ ở số…đường Ng T Giang. Giữa lúc người ta đang say ngủ, tôi đấm cửa liên tục. ban đầu họ không dám mở. chỉ hé cửa sổ , thấy chiếc xe KQ và tôi mặc đồ bay, người ta mới yên lòng và tiếp tôi..sau khi giới thiệu sơ qua, tôi đi thẳng vào vấn đề, yêu cầu trong năm phút phải quyết định, hoặc đi, bỏ lại tất cả và lên xe, hoặc ở lại.Sau khi hội ý ,hình như một ông rể và một bà chị ở lại, còn tất cả lên xe trong đó có một cô sinh viên, tôi còn nhớ có cái tên rất Húê, Hương-Giang.Tới cổng phi trường,QCvẫn còn làm việc rất nghiêm chỉnh,tôi nhớ hình như phải gọi th/tá Giàu can thiệp mới được vào.
Khi trở về lạị khu vực alert-pad thì đã gần 2 giờ sáng..tình hình bấy giờ đã trở nên rất sôi động vì trên bầu trời chiếc C130 đang lượn vòng chuẩn bị đáp, anh em phi đạo đứng nối tay làm hàng rào ngăn chận người lạ xâm nhập, thỉnh thoảng một chiếc trực thăng từ đâu chớp nhoáng đáp xuống, xô bỏ người thân rồi vụt bay như con chim bói cá..còn những vị hành khách không mời này như đã được huấn luyện trước, nhanh chóng trà trộn vào đám quân ô hợp . th/tá Giàu ra sức giữ trật tự , tr/tá Lan lớn tiếng trấn an “bà con yên chí, ai cũng được đi. Tất cả đồ đạc, lớn nhỏ bỏ hết lên đây”vừa nói vừa chỉ chiếc xe pick-up “máy bay sẽ mang theo, xuống phi trường SG của ai sẽ lấy lại”…Thường ngày tôi thấy tr/tá đạo mạo, chính trực, hôm đó sao nói dối tài tình đến thế ! chính tôi cũng lầm tưởng. tr/tá Lan vừa nói xong, bà con nhào tới bỏ hết đồ đạc của mình, đầy nhóc khung xe và yên chí trở về chổ củ ̣( sau đó th/tá Cổn giao chìa khóa xe cho tôi với một hàm ý nhưng tôi không hiểu và đã không nhận, đến khi ngồi tù bảy năm về.. đói khổ qúa, nhất là nhìn thấy mẹ gìa và mấy đứa con thiếu ăn cứ tưởng tượng hoài ). Chỉ duy nhất có ba tôi ngồi ở hàng đầu, ông vẫn ôm chặt cái TV 12inches tôi mua ở Mỷ gởi về lúc du học ,ông qúy lắm bỏ hết nhà cửa mang theo chỉ mình nó. Mấy tháng sau ông mất, lúc tôi đang ở trên trại tù và cứ nhớ mãi hình ảnh này…
Cuối cùng chiếc C130 đã đáp xuống, đi vòng vòng một hồi rồi quẹo vô phía đám đông đang ngồi chờ, đưa phần đuôi vào, tình hình bây giờ trở nên rất căng thẳng! tuy nhiên đám quân ô hợp vẫn ngồi yên bất động và chờ lệnh, tới lúc này tôi mới biết th/tá Giàu đã dàn xếp,người gìa,trẻ con, đặc biệt đàn bà mang thai được ưu tiên ngồi hàng đầu, trong khi đó bà xã tôi có bầu hơn tám tháng lại ngồi đằng sau cùng, cũng lỗi tai tôi trong giờ phút quan trọng nhất lại bỏ đi..Tôi ra dấu cho bà xã tôi đứng dậy ra khỏi hàng và dẫn đi... được nửa chừng thì như một lệnh truyền từ hư vô. cả rừng người đồng loạt đứng dậy và cùng một lúc nhào tới. cảnh hổn loạn xảy ra tức khắc... hoàn toàn bất khả kháng! . tr/tá Lan, th/tá Giàu th/tá Cổn tất cả chỉ biết đứng nhìn, như đang xem một cuốn phim thời chiến…cánh cửa sau của máy bay buộc lòng phải đưa lên lưng chừng, tới nước này tôi đành chịu thua, bỏ lại bà xã.. tôi chạy đến leo lên máy bay và không phân biệt, nắm được tay ai là kéo lên , tôi nhận ra chị Xuân vợ Mai v Minh, tôi phải dùng cả hai tay và cẩn thận hơn vì chị đang có bầu ,vào lúc đó chỉ có mình tôi là làm công việc cứu hộ này. Kéo được khoảng mười lăm người thì máy bay rùng mình bỏ chạy như con bọ hung rực- rảy bầy kiến bu..Ra tới gần phi đạo, lợi dụng khúc quẹo tôi nhảy xuống lăng mấy vòng, chiếc mủ “tây thi” rớt đâu mất ,máu ướt bên trán..tôi cũng không bận tầm, vẫn ngồi yên bất động nhìn theo chiếc C130 cất cánh cho đến khi bóng nó mất hút trong màn đêm tôi mới đứng dậy trở vô. Khu vực alert-pad bấy giờ như một bãi chiến trường, chỉ thấy lác đác vài nhóm nhỏ người thua trận đang mò mẩm, và đâu đó có vài tiếng khóc nấc lên tửng hồi… anh em trực không chiến thì đã tắt đèn đi ngủ từ lúc nào.Tư nhiên tôi lại thấy nhớ nhớ cái đám quân ô hợp, mới hồi nảy còn đang náo loạn…
Trọn nguyên cả một ngày hôm sau (27-3-75),từ sáng cho tới tối. không ăn không uống. một người bạn có tình,có nghĩa. Th/úy Ng v Tiếu luôn sát cánh bên vợ chồng tôi . cùng đi trên chiếc Jeep màu xanh lam của người bạn Mỹ cố vấn phi-đoàn để lạị, lái chạy quanh phi đạo tìm đường thoát cho vợ chồng tôi (riêng Tiếu thì đã có F-5)có chiếc trực thăng bị hư máy, thấy người ta ngồi đầy nhóc ,vợ chồng tôi với cái bụng bầu tổ bố cũng leo lên rồi leo xuống.Tiếu vẫn ngồi trên xe đợi..Thỉnh thoảng cũng có một hai chiếc C130 đáp xuống đi vòng quanh không dám ngừng. một chiếc C119 đảo vài vòng trên phi đạo rồi bay mất.có một số người bị chết vì trốn trong hốc bánh đáp của Boing…chúng tôi cứ lái xe chạy vòng quanh, khi qua bên ngã phước-tường và dừng xe sát một chiếc C130 đang nổ máy ngoài phi đạo,thấy người ta bu đầy nhóc, không đóng cửa được tôi và Tiếu nhìn nhau lắc đầu..bỏ cuộc ! chúng tôi trở về lại phòng trực alert-pad định nghỉ ngơi một lát, thì gặp th/tá Cổn. ông đưa vô phòng briefing ,nói sơ qua trong trường hợp khẩn cấp..cứ việc heading 173 mà bay, khỏi cần hợp đoàn, chờ đợi v.v.
Đêm thứ hai vẫn yên tĩnh, cho tới hơn nửa khuya, bọn VC bắt đầu pháo kích, càng lúc càng dữ dội, chủ tâm phá bỏ phi đạo, cắt đứt đường hàng không . Lúc đó, tôi và bà xã đang ở khu cư xá Trần v Tho, ̣ Giữa lúc mưa pháo và trong tranh tối, tranh sáng. từ trong nhà nhìn ra đường, tôi thấy sáu bóng người đi thất thểu, máu me tùm lum, hình như tới bước đường cùng, họ không còn biết sợ hãi gì nữa! dẫn đầu là một anh mặc đồ bay,mang lon đ/u. tôi bước ra cửa đưa tay ngoắc vô. Tôi đọc được tên trên ngực áo anh tên Tuấn, lái skyraider, một mình về đây, tìm cách đưa gia đình đi, nhưng không quen ai cả.Tôi đưa hết mọi người vô nhà ̣, lấy xe jeep chở mình anh đi về hướng phi cảng dân sự, công nhận anh nầy giỏi thật! thấy một chiếc xe hơi của ai đậu bên lề đường, không biết bằng cách nào, chưa tới năm phút là anh nổ máy được rồi lái chạy theo tôi về lại nhà. Có được phương tiện, anh như con chim sỗ lồng, ríu rít cám ơn..khi anh đi mất, tôi mới phác giác còn để laị một cô em gái khoảng 19 tuổi khá xinh, không hiểu nguyên do tại sao?.và cô này cũng không bày tỏ môt ̣phản ứng gì hết, chỉ lẻo đẻo theo vợ chồng tôi. Riêng Tuấn và những người còn lại, nhất là ông bố đang bị thương nặng, không biết số phận của họ sau đó đi về đâu? Chỉ biết một tin chính xác là có một A1 bị rớt ngoài biển do anh em phi đạo kể lại(anh Tuấn nếu còn sống hoặc qúy vị nào biết tung tích về vị đ/u mà tôi rất có cảm tình này ở một trong mấy phi đòan khu trục xin L/L, cám ơn)(2)
Đến khoảng 2 giờ sáng, thì tiếng đạn pháo thưa dần,tôi thấy anh em F-5 lần lược cất cánh từng chiếc một..tiếng gầm rú của động cơ phản lực vang dội cả một vùng, át cả tiếng đạn pháo kích . Tiếu đã may mắn bay chiếc F-5D cất cánh từ hồi chiều, chở theo một đ/u kỷ thuật, hình như Trần lưu Uý cũng bay cùng lúc . cũng trong đêm đó, một A37 crashed trên phi đạo,đ/u Đỗ Thạnh tử thương tại chổ . Ngay sau khi chiếc F-5 cuối cùng rời phi đạo, tôi lái xe tới khu trực alert pad , chạy thẳng vô ụ đậu, tôi còn nhớ số phi cơ 253 .Tr/u Thành trưởng toán phi đạo, từ trong chổ tối sau bức màn chống pháo kích, lớn tiếng giọng bắc kỳ năm-tư “Ai?” Nhận ra tôi anh dịu giọng “tất cả bay hết rồi..chỉ còn mình Hồng-Tiễn..mau lên! Tôi đi kêu tụi nó nổ máy,VC sắp pháo nữa đó”. Tôi nhìn con tàu, rồi quay lưng nhìn bà xã với cái bụng bầu ngồi yên lặng như pho tượng trên chiếc xe jeep giữa đêm khuya thanh vắng.. Thường ngày vợ tôi rất ủy mị, tôi nhớ lúc tiễn tôi vô biên hòa học F-5E đã oà khóc như một đứa trẻ,đến nổi tôi phải xin tr/tá Anh trở ra.Nhưng vào lúc này đây, biết tôi đi sẽ không bao giờ trở về.. nàng lại hối thúc “đi!…đi anh !..anh ơi !”. và tôi cứ tưởng bà xã tôi yếu đuối lắm, nhưng không… nàng đã chuẩn bị sẳn cho đứa con trong bụng một cái tên dù trai hay gái khi sanh ra “Lê anh Phiếu” nếu lúc đó tôi cất cánh…(bà xả tôi đã tâm sự khi bồng con lên trại tù ở trên núi thăm tôi lần đầu).
Và tôi đã lắc đầu..Thấy vậy , Thành xẳng giọng và dùng từ cấp bậc đối với tôi “ thôi được , vậy thì trung úy về nhà đi..” (đêm hôm sau, Thành đã chiến đấu rất anh dũng với VC và hy sinh tại chổ này, tôi sẽ kể sau (1))Tôi thẩn thờ như người mất hồn …thấy phòng trực alert pad, đèn vẫn còn sáng. Tôi dừng xe bước vào..máy lạnh vẫn chạy đều, mấy ly cà phê đang uống dở,nước đá còn chưa tan..khoảng nửa giờ trước đây ,anh em còn đang sinh hoạt, bây giờ đã ở một thế giới khác..thế giới của tự do, còn tôi thì sắp đối mặt với kẻ thù khát máu…Đang miên man, bổng nghe có tiếng động nhỏ, một bóng người ngồi yên lặng trong góc tối ,đầu cúi gầm, mặt quay vô tường, tôi bước lại gần nhìn kỷ mới nhận ra đại tá Đệ, không biết đại tá lúc đó đang nghỉ gì mà hai bờ vai rung lên từng hồi.. tôi chưa kịp hỏi và ông không quay lại mà vẫn biết là tôi “người nhà đâu rồi, sao không đi.. !?” tôi không trả lời, chỉ đứng yên đưa tay chào mà nước mắt muốn rơi!....Một hình ảnh đại tá Đệ vui tươi bên cạnh tr/tá Lan vừa đi vừa briefing, như đôi chim gìa dặn hướng về chiếc F-5D cách đây chỉ mới hai tuần… đâu mất rồi!. Hôm đó, tôi hân hạnh được bay wingman với hai xếp lớn và không ngờ rằng, đó cũng là phi vụ cuối cùng trong cuộc đời bay bỗng của mình .Và lần gặp hôm nay, trong tình huống bi thương này cũng là lần cuối với vị đại tá mà tôi hằng kính mến…
( trích đoạn hồi ký “ Những khúc quanh đen tối “)
XIN CẢI CHÍNH
1/ có sự ngộ nhận trùng tên về một tr/ u Thành nào đó bên Liền đoàn phòng thủ phi trường Đả Nẵng
2/ đai uý Toàn bay skyraider chứ kg phải Tuấn ( đêm khuya nhìn kg rõ bản tên )
Cám ơn bạn đọc
Lê Phiểu

Có Ai Còn Nhớ !!!

Nói về lịch sử hoạt động ,nhiệm vụ của NKT (Nha Kỹ Thuật) .
Vì là cơ quan tình báo tối mật được thành lập dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm,Tôi cũng chỉ biết trong phần vụ và trách nhiệm của tôi , còn về lịch sử và hoạt động của NKT thì nhiều người biết hơn tôi và có chức vụ quan trọng hơn tôi, họ đã viết rồi,
Trong bài này tôi muốn nói sơ lược về kỷ niệm đau thương nhất cho cuộc đời binh nghiệp của riêng cá nhân tôi mà thôi.
Sau khi xuất thân khóa 11 Đồng Tiến Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức cuối năm 1960 Tôi tình nguyện qua LLĐB,L/D 77 ( Lực Lượng Đặc Biệt/Liên Đoàn 77 )Sau đó qua L/Đ 31 ( Liên Đoàn 31 ),rồi Liên Đội Quân Sát 1, nhảy toán vùng Hạ Lào, Căn Cứ xuất phát đặt tại Khe Sanh, Lao Bảo.
Toán của chúng tôi được Đ/T Trần Khắc Kinh đặt tên là toán “ba gai” vì tập trung toàn thành phần bướng bỉnh,sau đó được đổi tên lại thành ”Beo Gấm” cho có vẻ nhẹ nhàng hơn
( Toán này được Đ/T Kính sử dụng trong những công tác đặc biệt ).
Tôi không thuộc thành phần ba gai ( vô kỷ luât ) nhưng cũng được bổ sung vào toán đặc biệt này, vì tính chất chuyên nghiệp quân sự của tôi là chuyên viên phá hoại, chuyên về đặt mìn và chất nổ, điều bắt buộc trong toán của LLĐB luôn luôn phải có những chuyên viên này.
Sau khi tham dự chiến dịch hành quân Lôi Vũ sau một thời gian nhảy toán , năm 1962
Tôi được thuyên chuyển về SB ( Sở Bắc ) thuộc phòng 45 của LLĐB chuyên phụ trách huấn luyện các toán Biệt kích xâm nhập miền Bắc tại các safehouse (danh từ tình báo gọi là nhà an toàn) .
Trong toán huấn luyện của chúng tôi , tôi được đổi tên với bí danh Vân,anh Trâm bí danh Hùng , Lai bí danh Lâm, Hòa bí danh Kim, Phi bí danh Thu, chúng tôi huấn luyện và thường đi theo các anh em toán khi họ xâm nhập hoặc bay khi liên lạc nhân viên  toán trong vùng .
Sau chinh biến năm 1963 vì nhu cầu chiến trường và sự bành trướng của Quân Đội ,SB chuyển đổi thành SKT ( Sở Kỹ Thuật ), năm 1974 đổi tên thành NKT và danh xưng này được giữ nguyên cho đến ngày tàn cuộc chiến.
Trực thuộc NKT còn rất nhiều Phòng ,Sở và các ĐCT ( Đoàn Công Tác ) năm  1968 ĐCT/68 được thành lập,Tôi được thuyên chuyển về ĐCT/68 từ năm 1968 đến năm 1974
Năm 1974 một biến cố bất ngờ xảy ra tại ĐCT/72 đã lấy đi mạng sống của vị CHT/ĐCT/72 và một vài Sĩ Quan trực thuộc .
Tôi được Đ/T Giám Đốc /NKT đề cử ra để nhậm chức vụ  CHT/ĐCT/72 ngày 16/04/1974, khi tôi ra nhậm chức CHT/ĐCT/72 thời gian này tinh thần anh em trong đoàn rất xuống, anh em toán viên có một số cũng ghiền sì ke mua vui sau những cuộc hành quân đầy nguy hiểm từ vùng địch trở về thành phố.
Chỉ huy một đơn vị như vậy cũng rất phức tạp, dùng kỷ luật cũng không được,cứng rắn quá cũng  không được e rằng sẽ có  biến cố như đã xảy ra với vị CHT tiền nhiệm tái diễn, điều này tôi không muốn xảy ra cho tôi nên việc chỉ huy cần sự tế nhị và uyển chuyển .
Sau khi từ từ chỉnh đốn lại hàng ngũ và lấy lại tinh thần cho đơn vị,một thời gian ngắn thì  đã gắn bó với nhau thân thiết hơn và sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu chiến trường,các cuộc hành quân đã mang lại kết quả tốt đẹp,đáng khích lệ kể từ ngày thành lập đơn vị.
Sau gần một năm gắn bó với ĐCT/72 cuộc chiến đã bị Đồng Minh bỏ rơi và ĐCT/72 cũng như dòng định mệnh nghiệt ngã đem đến cho tất cả các đơn vị QLVNCH nói chung và ĐCT/72 nói riêng .Tôi chỉ muốn viết lại ngắn gọn trong phạm vi hạn hẹp của ĐCT/72
Khoảng đầu tháng 03/1975, tôi không nhớ rõ ngày, thời điểm này chiến trường trở nên sôi động bất thường, Ban Mê Thuột thất thủ ,Cao Nguyên mất, tại Đà Nẵng tình hình cũng rất sôi động.
Ngày 24/03/1975 tôi tình cờ vào tòa Lãnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng (nhờ vốn Anh văn sẵn có, vì tôi đã đi tu nghiệp khóa tình báo cao cấp bên Hoa Kỳ tại Baltimore Tiểu Bang Maryland năm 1971 nên sự giao thiệp không gì  trở ngại khi tiếp xúc với nhân viên Tòa Lãnh Sự).
Tôi được họ cho biết vào buổi chiều sẽ có Tàu của Phi Luật Tân được Tòa Lãnh Sự Mỹ mướn để di tản nhân viên và đồng bào và sẽ đậu tài bến Tiên Sha .Tôi liền về thông báo cho Bộ Chỉ Huy SCT.
Còn riêng ĐCT/72 tôi đã cho di tản toàn bộ trại gia binh, nhờ vậy sau này cuộc di tản tại Đà Nẵng đã bớt phần nào tổn thất cho ĐCT/72 , nếu còn để trại gia binh lại thì còn trở ngại hơn nữa.
Sáng 28/3 tôi ăn sáng tại Sơn Trà gặp người bạn cùng khóa là Th/T Long CHT/Giang Đoàn vận tải hiện đậu tại Cảng Sơn Trà được lệnh ra Đà Nẵng để chuyển quân ,anh ta có hứa với tôi khi nào có lệnh di tản thì sẽ thông báo cho ĐCT của tôi, nhưng nghiệt ngã thay cho ĐCT/72 lại đóng ở Tiên Sha chứ không ở Sơn Trà như BCH/SCT/ ,DCT/11 và ĐCT/71.
Trưa ngày 28/3/1974 tôi được Tr/T Tuan CHP Sở gọi lên họp , cho biết qua tình hình rất là nguy ngập, sau đó trở về đoàn đợi lệnh và cho tiêu hủy hồ sơ sẵn sáng tác chiến, khi ra đến cổng của BCH/SCT tôi gặp Đ/T Đáng Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn I  và được Đ/T Đáng cho biết là BTL/QĐI đã mất liên lạc từ trưa ngày 28/03/1974 ( muốn biết thêm chi tiết xin tìm đọc CAN TRƯỜNG TRONG CHIẾN BẠI của Phó Đê Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trang 239, sau này khi gặp lại BCH/SCT tại Cam Ranh tôi được biết Đ/T Đang đã di tản cùng với BCH/SCT )
Tại thời điểm này ĐCT/72 có 2 Bộ Chỉ Huy hành quân nhẹ và 3 toán hiện đang trong vùng địch , một BCH nhẹ tại đỉnh Đồng Đen do Th/Úy Thể và một BCH nhẹ giữ an ninh cho đài kiểm báo Panama do Đ/Úy Thục chỉ huy, vì chưa nhận được lệnh rõ ràng của Tr/T Tuấn nên tôi cũng không tự động cho lệnh rút về , tôi cho lệnh các toán hãy nằm yên đợi lệnh, sau đó tôi cho tiêu hủy hồ sơ và trang bị lương thực 7 ngày và vũ khí đầy đủ cho quân nhân của ĐCT/72 và sẵn sàng đợi lệnh của BCH/SCT.
ĐCT/72 sẵn sàng ứng chiến túc trực đợi lệnh mãi đến 8 giờ tối hoặc hơn nữa , tôi nhận được lệnh của Tr/T Tuấn trên máy truyền tin là BCH/SCT đã di tản ra khơi (bằng Giang Đoàn của Th/T Long bạn cùng khóa với tôi như đã hẹn lúc sáng).
ĐCT/72 tự túc tìm phương tiện di tản,lúc này thì đã quá trễ rồi, nếu Tr/T Tuân cho lệnh sớm hơn ½ giờ thì chúng tôi đã đi cùng với BCH/SCT rồi, sau đó tôi cho lệnh 2 Bộ Chỉ Huy nhẹ bằng mọi cách thoát thân, vì bản thân ĐCT/72 cũng đã bị rớt lại rồi.
Tôi tập trung anh em trong Đoàn lại và di chuyển về hướng Sơn Trà , thực sự ra thì cũng chẳng biết đi đâu ,để làm gì , rút về đâu, Dàn quân ra hai bên đường, đi về hướng BCH/SCT, dân chúng thì tràn ngập vào Tiên Sha ,đi được một đoạn thì thấy xe Tăng xuất hiện , tưởng xe Tăng của VC anh em toán dạt qua hai bên đường , thấy tình thế không ổn nên tôi lại quay trở lại Tiên Sha nơi BTL/HQ Vùng I.
Nơi đây tôi gặp Th/T Kiệt, Giám Đốc Hải Cảng Tiên Sha (được biết ông này là cháu của T/Thống Thiệu ),ông này bèn mượn máy truyền tin của tôi để liên lạc , may ra có Tàu nào gần đó cập bến tiếp cứu , sau một hồi đây Kilo ,đây Kilo chẳng ai trả lời cả, tất cả đều trong tình trạng tuyệt vọng, chúng tôi lại đi tiếp vào trong sân BTL thì thấy 2 chiếc trực thăng đậu sẵn tại đây, tôi có hỏi hai Phi Công trực thăng này cho di tản , thì được họ cho biết hết xăng nên phải đáp xuống đây thôi, 
Sau này không biết số phận Th/T Kiệt và 2 viên Phi Công này ra sao, thấy đã quá nửa khuya rồi, anh em ai cũng mệt mỏi , tôi cho lệnh toàn bộ ĐCT/72 trở về BCH đoàn để tử thủ , trên đường về đoàn, địch pháo kích ác liệt , đêm nay ĐCT/72 nhận được một trận pháo khủng khiếp của VC từ Nam Ô pháo sang,
Dân chúng chết đầy đường, trong số này có một tên VC bị dân chúng phát hiện là tiền sát viên nên bắt trói lại để giữa đường kêu la thảm thiết , hắn nói “tôi không phải VC đâu mà các ông bắt tôi “ dân chúng nói chính mày là tiền sát viên VC nên bị dân chúng ức quá bắt trói lại , thêm chi tiết trang 266 CAN TRƯỜNG TRONG CHIẾN BẠI,  (cấp bậc của tôi Th/T không phải Tr/T như trong sách ).
Sáng này 29/03/74 trong tình thế tuyệt vọng anh em chúng tôi tập trung lại quân số , vẫn trang bị đầy đủ và kéo xuống bến Cảng Tiên Sha , vừa để tránh pháo VC vửa để tìm đường thoát , chúng tôi vẫn hàng ngũ chỉnh tể , súng đạn đầy đủ xuống đến bến Cảng chúng tôi chia nhau xuống nấp dưới gầm cầu Tàu để tránh pháo VC và tự nhủ rằng nếu không có đường nào thoát nữa VC vào tới nơi thì mình sẽ cùng nhau tự sát và cho xác rớt xuống biển làm mồi cho cá ăn
Suốt buổi sáng VC pháo kích liên tục, đến buổi trưa thì tạm ngưng , sau khi tạm ngưng được một lúc thì như một phép nhiệm màu nào đó đã đến với ĐCT/72 đột nhiên có một chiếc sà lan có tàu kéo từ từ cập bến, không để lỡ cơ hội tôi và toàn bộ anh em trong đoàn chia nhau xuống tàu kéo và sà lan, vì lúc này chúng tôi vẫn còn trang bị đầy đủ , nên việc làm chủ tình hình cũng không khó khăn .
Tôi liên lạc với viên thuyền trưởng Tàu kéo  quốc tịch Úc (với số vốn Anh văn sẵn có  nên việc tiếp xúc cũng trở nên dễ dàng ), vì có vũ khí nên nguoi` này hoàn toàn theo lệnh của tôi, lúc này thì hắn cho biết là sà lan đã quá tải phải cho bớt người xuống, nhưng giờ phút này không ai chịu xuống cả, mọi người đều bám lấy cái chết để hy vong được sống .    
Tôi cho lệnh anh em trong đoàn không cho bất cứ người dân nào lên nữa vì sợ VC trà trộn , sà lan quá tải sẽ chìm rất nguy hiểm, khi viên thuyền trưởng được chúng tôi bảo vệ an ninh và không cho người lên nữa, sau đó thuyền trưởng cho Tàu ra khỏi bến và kéo theo sà lan , trên đường rời bến thỉnh thoảng cũng có nhưng thuyền nhỏ có những cựu quân nhân mặc sắc phục chúng tôi kéo lên , có một thuyền như cái thúng trên thuyên có một người ở trần , đội mũ trên mang lon Đ/Tá lấy tay vái lia lịa , nên anh em chúng tôi cũng kéo lên được,
Trên đường suôi Nam chúng tôi ở Tàu kéo và trang bị nước đầy đủ nên không bị thiếu nước, nhưng bên sà lan tình trang khủng khiếp , may ngày trời lênh đênh trên biển không một giọt nước , với dân số trên 10.000 người trời nắng chen chúc nhau, chém giết nhau để dành nước uống,
Có một số người vô kỷ luật hãm hiếp , cướp giật, họ nổi loạn và bắn lên Tàu kéo một T.S thuốc ĐCT/72 bị trúng thương ở cổ vì đang ngồi canh gác phía sau Tàu kéo (vì anh này mới về nên tôi không nhớ tên , anh em nào trong Đoàn nhớ tên xin nhắc tôi, khi tàu đến Nha Trang phải đưa anh vào bệnh viện ) phía dân chúng trên sà lan họ đòi Tàu kéo phải dừng lại để xin nước, tôi có nói với Thuyền Trưởng rằng nếu dừng lại bây giờ rất nguy hiểm , dân họ mà leo lên được , sẽ chìm Tảu giữa biên , viên Thuyền Trưởng tiếp tục cho tàu suôi Nam ,
Sau 3 ngày đêm thì chúng tôi về đến Nha Trang , Tàu vừa cập bên một cảnh tượng hãi hùng mà tôi chưa từng thấy trong đời , nếu ngày xưa Đức Quốc Xã có tàn sát người Do Thái thì cũng chỉ đến thế này là cùng, xác người nàm chết chồng chất lên nhau trải đầy mặt sà lan  2, 3 lớp xác người, những người còn sống thì điên dại cởi hết quần áo đi rong ngoài đường (tôi có chụp được hình thảm cảnh này nhưng kỳ di tản đợt 2 lại không kịp mang đi) xác người được khiêng xuống để đầy cầu Tàu, dân chúng chứng kến cảnh này đồn nhau hoảng hốt làm cả thành phố Nha Trang hoảng loạn .
Trong khi chờ đợi chính quyền địa phương khiêng xác người xuống , tôi và anh em trong Đoàn đi nhờ xe vào BCH tiểu khu Khanh Hòa nơi đây tôi gặp lại toán anh em DCT/75 di tản tử Pleiku vể do Th/T Kinh (bạn cùng khóa) CHP/ĐCT/75.
Nhận thấy tình hình cũng tương tự như Đà Nẵng mấy hôm trước nên tôi quyết định cùng anh em trong đoàn trở lại sà lan và bàn với Thuyền Trưởng tiếp tục đi suôi Nam ngay đêm hôm đó , đến mờ sáng thì sà lan đến Cam Ranh , nơi đây chúng tôi gặp lại BCH/SCT  ĐCT/11,ĐCT/71 vì hai Đoàn này di tản cùng với BCH/SCT , Tr/T Tuân có chạy ra ôm tôi và nói mừng cho anh trở về được , tôi cũng cám ơn Tr/T Tuân vể nghĩa cử này,
Sau này tôi được biết khi Tr/T Tuân đã ra khơi rồi và báo cho Đ/T Giám Đốc NKT biết là ĐCT/72 chúng tôi bị kẹt lại , Đ/T Giám Đốc có ra lệnh là phải quay trở lại Đà Nẵng để đón ĐCT/72 , cũng may là Tr/T Tuân tiếp tục suôi Nam , nếu trở lại DN thì không biết hậu quả sẽ ra sao cho BCH/SCT,
Sau đó Đoàn chúng tôi sát nhập với BCH/ĐCT và tiếp tục về Vũng Tàu, một điều may mắn cho chúng tôi là mặc dù gặp hoạn nạn nhưng anh em chúng tôi ĐCT/72 vẫn ra đi với đầy đủ quân trang và quân dụng , ngoại trừ những toán đang trong vùng hành quân vì trường hợp bất khả kháng tôi không thể làm gì khác hơn được,
Tôi viết lại đây với một góc cạnh nhỏ của ĐCT/72 đã góp phần vào cuộc chiến, một đội Quân hùng mạnh nhất ĐNA đã tan biến theo sự sắp đặt của thế lực cường quốc, khi cuộc chiến tán thì cả một thế hệ tàn theo, thoát ra ngoài được thì “lao động tự nguyện, từ khi qua Mỹ tới ngày hôm nay tôi vẫn chuyên nghiệp lao động “không thoát ra được thì bị tù đày lao động cưỡng bách “
Nhân dịp nay tôi cũng mong những anh em đã cùng tôi trên bước đường hoạn nạn này có bổ túc thêm chi tiết gì tôi xin đón nhận,
Tôi cũng vừa đọc bài báo “vì sao tôi bỏ Quân Đoàn I ” của tờ Thời Báo mới phát hành trong đó Tr/T Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh Vùng I có viết đoạn như sau (… tiện đây tôi cũng xin nói về trường hợp ra đi của Tướng Thoại Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải và Tướng Khanh Tư Lệnh Không Quân Vùng I” là vì Tư Lệnh trong tay có đến hàng ngàn lính , hàng trăm Chiến Hạm lớn nhỏ, nhưng tôi nghiệm thấy sau khi hỗn loạn, Tướng Thoại đã bị bỏ quên không ai cho đi khỏi BTL ở Tiên Sha và ông đã phải đi bộ qua dãy núi phía sau bờ biển  may nhờ có một chiếc tàu Hải Quân mà anh em trên tàu còn giữ kỷ luật, thấy Phó Đê Đốc Thoại họ đã ghé lại cho Tướng Thoại đi chứ nếu không thì cũng chẳng biết sau này sẽ ra sao….)
Cấp Tướng còn chịu số phận như vậy thì đối với cấp Tá như tôi hoặc cấp nhỏ hơn tôi thì chỉ là chuyện bình thường của nghịch cảnh dành cho kẻ chiến bại, vài háng tâm sự để ghi lại biến cố đau thương của tập thề QLVNCH nói chúng và của ĐCT/72 nói riêng,
Tôi cón nhớ sau khi về đến kho 18 bên Khánh Hội thời gian chưa được 1 tháng ĐCT/72 trước khi tan hàng của cả một tập thể QLVNCH tôi có tập họp anh em trong Đoàn và trước hàng quân tôi nói với anh em rằng”kể từ giờ phút này ĐCT/72 được lệnh tan hàng ,anh em nào còn muốn theo tôi thì mình tập trung lại cùng nhau tìm kiếm phương tiện ra đi (thực ra thì cũng chẳng biết đi về đâu )
Tr/S Hồng đã đến ôm tôi, từ giã xin trở về gia đình nước mắt rưng rưng tôi cũng chúc anh ta may mắn,

Bạch Hổ /ĐCT/72

Tuesday, March 24, 2026

Phân Ưu - Đại Tá Phan Văn Huấn - Video và Hình Ảnh


 Phân Ưu của Ông Hoàng Đức Nhã và Bác Sĩ Phạm Quang Minh 









Vòng hoa của Cô Giáo Pha
An Lộc Địa Sử Ghi Chiến Tích
Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân 



Video Nghi Thức Phủ Quốc Kỳ VNCH Video tiếp theo
Gia Đình Con Cháu
Anh Em Biệt Cách Dù thắp hương Video 1 Phát Biểu Tr/Tá Nguyễn Văn Ức Nghi Thức Gấp Kỳ VNCH

Sunday, March 22, 2026

Nghi thức Phủ Quốc Kỳ VNCH vào lúc 10:30 am ngày 23 tháng 3 năm 2026 tại Peek Family Phòng số 1 Thành Phố Westminster, California Hoa Kỳ - Hội Lực Lượng Đặc Biệt và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đảm trách.

Nghi thức Phủ Quốc Kỳ VNCH vào lúc 10:30 am ngày 23 tháng 3 năm 2026 tại Peek Family Phòng số 1 Thành Phố Westminster, California Hoa Kỳ - Hội Lực Lượng Đặc Biệt và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đảm trách. 

Friday, March 20, 2026

Đại tá Phan văn Huấn, người anh cả Gia đình 81/BCD

Chúng tôi chưa từng là thuộc cấp của ông, nhưng vẫn gọi ông là anh cả. Nhân cách và hình ảnh của ông chế ngự trong tôi suốt thời gian tôi được chuyển về sống tại Z-30A (trại C) năm 1986 và được "biên chế" vào đội rau xanh cùng ông. Thời gian của những năm tù cuối thập niên 80 tương đối bớt khắt khe hơn. Sắp bước sang năm thứ 12, nhưng trại C vẫn còn đầy ắp những sĩ quan cao cấp mà thời gian chinh chiến của họ dài gấp đôi gấp ba những năm tù. Giai đoạn cuối một đời "học tập cải tạo" nhưng "không bao giờ thuộc bài" của chúng tôi có nhiều điều đáng nói, nhiều hình ảnh cần nhớ và nhiều hình ảnh cũng cần quên để giữ vững tinh thần. Ði trên một đoạn đường không nhìn thấy đích, phải khó khăn lắm một người tù mới bảo toàn giá trị duy nhất còn lại của mình: tới hay không tới một điểm dừng nào đó, vẫn phải đứng thẳng lưng trước kẻ thù, bảo toàn được nhân cách.

Những bạn tù nào đã sống chung với các sĩ quan cao cấp đàn anh thường có niềm vui và nỗi buồn bất chợt. Vui khi thấy một đàn anh xứng đáng, đàng hoàng và chỉ một lời trách nhẹ của họ, chúng tôi cũng coi như một lệnh phải thi hành. Buồn khi thấy một đàn anh khúm núm một cách không cần thiết trước mặt những kẻ thắng trận. Số người này ít nên nỗi buồn cũng chỉ thoáng qua. Số giữ được tư cách vẫn rất nhiều và làm cho lớp đàn em chúng tôi vững tin.

Số phận chung của chúng tôi là khi vào trong trại tù, không người nào còn cấp bậc hay quyền hành để cư xử với nhau cho có trên có dưới. Nhưng trên dưới vẫn được tôn trọng căn cứ vào tư cách và nhân cách của các sĩ quan đàn anh cũng như đàn em. Không có được hai yếu tố vừa kể, đám tù chúng tôi rất dễ trở thành "những dây bìm bìm leo trên bờ dậu đổ". Chúng tôi hiểu rằng, nỗi đau của thất trận đã như vết dao chém trong tâm can chúng tôi, nếu lại thêm một vài đàn anh thiếu tư cách, thêm vài đàn em hỗn hào hèn nhát, cái vết thương ấy chảy máu nhiều hơn, không phương hàn gắn.

Những bạn tù của tôi, người Công giáo, nói rằng, anh cả Phan văn Huấn là người vác thánh giá cho lũ em. Mà quả thật đi chung với anh một đường, lòng thấy nhẹ đi, phơi phới hơn, tin tưởng hơn. Con đường khó cũng bớt khó. Dáng người cao, gầy (dĩ nhiên), nước da đen xanh (dĩ nhiên), nhưng đôi mắt sáng và nụ cười bao giờ cũng là đầu câu chuyện. Giọng Huế còn "chay" lúc nào cũng nhỏ nhẹ, ý nhị, cười vui vừa phải, anh cả dẫn chúng tôi vào những câu chuyện buồn vui đời lính của chính ông và các sĩ quan binh lính thuộc cấp. Những kỷ niệm ông nói ra là những bài học không lúc nào mất giá trị.

Trang phục của ông trong tù khi quay về với cái nóng ở phương nam là quần áo may bằng bao cát xám. Chuyện mưu sinh chứ không phải là mốt thời trang. Người nào từng là tù cải tạo ra Bắc hoặc xuôi Nam đều biết loại quần áo tù bền muôn thuở này. Lúc đầu được phát mỗi năm hai bộ quần áo trận của quân VNCH, nhưng túi và cầu vai bị xé hết. Thời gian sau, họ phát quần áo tù bằng vải thô có đóng dấu cải tạo sau lưng. Mồ hôi của lao động khổ sai có thể xé rách bất cứ loại quần áo nào. Phải vá thôi, nhưng vải đâu. Thấy loại bao cát xám hay bao cát màu olive đem về giặt đi để đắp đỡ lên những chỗ rách trên áo tù. Thấy loại bao cát xám, càng giặt đi càng mịn có thể may quần áo được, tha hồ bền nên vài người tù trở thành thợ may bất đắc dĩ. Chúng tôi không được giữ vật bén nhọn, nhưng tìm trong vài ba lô vẫn có được những mảnh thép quí, mài đi thành dao nhỏ, cắt bao cát thay kéo, mài những cộng sắt làm kim, chỉ thì rút từ chính những sợi từ những bao cát bằng ni lông, thế là có một bộ đồ "ăn chơi quá thú"

Anh cả Phan văn Huấn quanh năm suốt tháng mang trang phục rất "mốt" may bằng bao cát xám. Tôi để ý thấy ông còn giữ được bộ đồ trận tương đối tươm tất nhưng chỉ thấy ông mặc nó vào ngày 19 tháng 6. Ở những trại trước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 19 tháng 6 bằng một phút im lặng chào quốc kỳ và chào nhau kiểu nhà binh trước khi bọn cai tù mở cửa buồng giam điểm số để ra lao động. Ở trại Z-30A vào 3 năm cuối của thập niên 80, ngày Quân lực được tổ chức theo từng nhóm riêng. Tôi mang áo lính nhưng binh chủng của tôi lại là đạo quân phóng viên, biên tập viên của Hệ thống truyền thanh quốc gia, nên cả trại chỉ còn mình tôi. Phần lớn đồng nghiệp với tôi đã trở về sớm hơn, có đứa vào năm 1986 đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ và làm lại cuộc đời rồi.

Anh cả Phan văn Huấn quí tôi nên thường mời tôi tham dự những bữa cơm đoàn kết cùng với một số các sĩ quan thuộc cấp của Biệt cách Dù, LLĐB cùng bị giam ở trại Z-30A. Ở đội rau xanh, tới giờ nghỉ giải lao, chúng tôi thường tụ tập hút với nhau điếu thuốc lào, nói dóc hay kiếm ếch nhái để "cải thiện". Riêng anh cả Huấn thì không nghỉ, anh dùng giờ giải lao để chăm bẵm một giàn mướp và vài bụi mồng tơi ở bên cạnh "lãnh thổ" của đội rau xanh. Viên cán bộ quản giáo, còn một chút hiểu biết, nên cũng dễ dãi cho phép tù "cải thiện". Mỗi đợt thu hoạch, anh Huấn hái về 5, 7 trái mướp vừa độ, vài nắm lá mồng tơi. Về trại anh chia đều cho những sĩ quan thuộc cấp.

Ngày chủ nhật, trại nghỉ lao động là dịp anh biểu diễn tài nấu nướng khi còn quà thăm nuôi. Anh mời hết đồng đội trong Biệt cách Dù có mặt ở trại và một vài vị tiền nhiệm của Liên đoàn 81/BCD. "Tiệc" chỉ là cơm gạo sấy, canh mồng tơi, mướp bỏ vào vài con tôm khô, chút bột ngọt, đôi khi có chút thịt kho mặn... Vậy mà thần tiên hơn bất cứ bữa tiệc nào mà tôi đã dự ở Hoa Kỳ này. Ăn xong, nhắp chút trà, hút với nhau vài điếu thuốc lào rồi chia tay, mỗi người có việc riêng của mình. Sau đó, anh lui cui rửa chén, bát, xếp lại "đồ nghề". Không ai trong số người dự được quyền làm công việc này thay anh. Có người tranh, anh nói: "Tôi là chủ nhà, các vị là khách". Khi nghe anh đổi ngôi thứ một cách trịnh trọng, chúng tôi hiểu là anh cương quyết giữ một hình ảnh: bây giờ không còn là thượng cấp và thuộc cấp nữa mà là tình chiến hữu, huynh đệ chi binh nặng hơn. Cũng chính vì chỉ còn tình cảm này mà khi anh than phiền nhẹ nhàng một điều gì đó, chúng tôi hiểu rằng, anh ra lệnh "các cậu đừng... như thế nữa". Tôi nghĩ rằng, tư cách đàn anh của anh lúc đó mạnh và có ảnh hưởng hơn những lúc anh còn binh quyền.

Có một lần vào ngày đầu tuần lễ, tôi bị bệnh được cho nghỉ nằm nhà. Anh Huấn được gọi ra thăm gặp gia đình. Bốn mươi phút sau, anh cả trở vào gọi tôi sang và dúi vào tay tôi những tờ giấy gói hàng. Ðó là những tờ báo của tờ Tuổi Trẻ mà gia đình khéo léo bọc ngoài những món đồ khô. Chúng tôi tập họp lại thành một số báo để đọc cho đỡ ghiền, vì ngay từ thời đó, tờ báo này vẫn là thứ cấm được mang vào trại. Giỏ quà thăm nuôi của anh gồm rất nhiều gói nho nhỏ, mỗi thứ một chút: một ít mắm ruốc kho với tóp mỡ, chút ít cá khô chà bông, ít mì vụn, một hũ nhỏ nước mắm kho quẹt, ít thịt heo băm nhỏ rim mặn, ít ruốc xả theo kiểu Huế... Phía trong mỗi gói đều có một mảnh giấy với vài hàng chữ. Anh cho tôi đọc một lá thư, ngắn ngủi nhưng chứa đựng một tấm lòng thương kính của gia đình quả phụ tử sĩ đối với anh. Chỉ đọc lá thư đầu để trong một gói mắm ruốc kho với tóp mỡ, nước mắt tôi đã trào ra. Chữ nguệch ngoạc bằng bút chì trên một miếng giấy kẻ ô đã vàng xé ở đâu đó: "... Gia đình em, cha mẹ của cố Binh nhất... kính thăm Đại tá. Chỉ có chút quà nhỏ do lòng thành của gia đình gởi biếu Đại tá dùng lấy thảo. Vẫn nhớ Đại tá và mong Đại tá khỏe mạnh, sớm về với gia đình..."

Tôi tiếc là không thể nhớ hết được nội dung của những lá thư ngắn ngủi kèm theo gói nhỏ đạm bạc nhưng đầy ắp tình thương và quí mến của gia đình tử sĩ Liên đoàn 81/BCD, dù rằng, vào lúc đó đại gia đình này đã tan đàn, xẻ nghé. Trường hợp như người anh cả của gia đình Biệt cách Dù không phải là số nhiều. Nó chứng tỏ rằng, trong thời chiến, cựu Ðại tá Phan văn Huấn đã hành xử đúng vai trò người anh cả trong một đại đơn vị chiến tích lẫy lừng ấy. Trận mạc gan lì nhưng trái tim ông đầy lòng nhân ái, sống gắn bó với những người lính của mình, chia xẻ những mất mát không gì bù đắp được của các gia đình tử sĩ, cô nhi quả phụ.

Trong trại, chưa bao giờ anh cả Huấn là một người tỏ ra giận dữ về những trò hành hạ của người thắng trận đối với cá nhân anh. Anh nói: "Họ thắng thì muốn nói gì, muốn làm gì cũng được, có sao đâu mà phải giận dữ. Hãy cố gắng chia xẻ với nhau những khốn khó và đứng thẳng lưng. Chúng ta sẽ thua trận cuối cùng này nếu chúng ta cúi đầu vì những trò hành hạ của họ". Lời lẽ anh giản dị, nhưng trong đêm khuya thanh vắng, nằm trong buồng giam nghĩ lại thấy thấm thía nhưng có "chất" để cho niềm tin vào chính nghĩa lớn hơn.

Anh cả được trở về với gia đình sau tôi vài tháng. Một người họ hàng với mẹ tôi là phụ huynh của một thương binh trước đây là lính của anh cho tôi biết, anh sống khó khăn và việc tìm cách đến thăm có thể làm cho mối hoài nghi của bọn công an phường gia tăng thêm. "Cậu đến thăm chắc ông ấy vui lắm, nhưng chị thấy là nên tránh cho ông ấy". Bà chị họ tôi nói như vậy. Tôi đi định cư ở Mỹ trước anh cả Huấn. Cơm áo nặng nề quá trong những năm mới tới không cho tôi nhiều thời gian nghĩ ngợi về chuyện tù đày. Rồi một hôm, đang ngồi làm việc ở tòa soạn của nhật báo Viễn Ðông của anh Nguyễn Ðức Quang, thì anh cả Huấn đẩy cửa bước vào. Tôi nhận ra anh ngay và chào kính. Vẫn nụ cười, anh cho tôi biết qua về đời sống hiện tại của anh ở Mỹ. Anh nói: "Lớn tuổi rồi, nhưng anh vẫn Ok. Có chuyện này nhờ Ánh". Chuyện anh nhờ thực ra anh không cần nhờ, tôi cũng có bổn phận phải làm. Ðó là một thư mời họp mặt Gia đình 81/BCD - LLĐB. Anh cả Huấn nói: "Bây giờ anh ngồi nhà, làm công việc kêu gọi anh em ở đây trợ giúp những người trong Gia đình 81 còn kẹt và gia đình quả phụ tử sĩ. Khó đấy, nhưng cố gắng tới đâu hay tới đó". Tôi được hân hạnh tham dự họp mặt của Gia đình 81/BCD, nhưng các lần sau đó thì không còn cơ hội. Năm nay, một phụ tá của anh cả Huấn đến đưa một thiệp mời và bản mới in của tuyển tập Ðời chiến binh mấy ngày trước chủ nhật 8 tháng 7. Tôi kẹt trong ngày này ở một nơi ngoài quận Cam thành thử không đến chào kính anh và các vị cựu sĩ quan Biệt cách Dù từng cùng anh vào sinh ra tử suốt trong cuộc chiến dài đằng đẵng cũng như đã từng chia xẻ với anh những nhọc nhằn trong những trại giam.

Tuyển tập Ðời chiến binh dày tới 539 trang, bìa rất đẹp với hình bìa sau là hình chụp nghĩa trang Biệt cách Dù tại An Lộc năm 1972 với đề chữ "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Nhưng thực ra, nổi nhất ở khu nghĩa trang này là chữ đề của một nữ giáo chức:

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt cách Dù vị quốc vong thân

Việc hình thành khu nghĩa trang này là cả một lịch sử được viết bằng máu và tình huynh đệ tương thân. Chúng ta hãy đọc một đoạn trích từ bút ký Nhớ về An Lộc dưới bức hình:

"Ðây là nghĩa trang Biệt cách Dù trong thị xã An Lộc, với những ngôi mộ mà chúng tôi đã đắp lên cho bạn bè bằng tất cả tình huynh đệ thân thương... Có những đêm mưa tầm tã, lẫn lộn với pháo rơi, chúng tôi đã phải mò mẫm từng tấc đất trong bóng đêm để bới những cái hố nhỏ chôn mình tránh pháo rồi mới đào những huyệt lớn để chôn xác bạn bè sau đó..."

Ðọc Ðời chiến binh, chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh của những cây tùng trước bão tự thân kể lại những kỷ niệm của thời chinh chiến. Mà nói đến chinh chiến thì có được có thua. Nhưng khi đọc lại những kỷ niệm của những người lính trận Biệt cách Dù, chúng ta sẽ thấy rằng, được thua đều có những cách nhìn khác nhau, nhưng Tổ quốc, Danh dự và Trách nhiệm chỉ có một cách để diễn tả.

Trước khi đọc Ðời chiến binh, tôi đã đọc Cây tùng trước bão của nhà văn Hoàng Khởi Phong nhiều lần. Nhưng đoạn văn ngắn tạo cho tôi một ấn tượng mạnh nhất vẫn là đoạn tôi xin phép được trích thuật dưới đây:

"Trong ánh sáng và bóng tối của một ngày vừa tàn và đêm đang tới, tôi mơ hồ nhìn thấy ông trong bộ quân phục. Cái mũ kết trên đầu ông có một cái khiên và trong cái khiên này, tôi nhớ có hình chạm nổi của một con chim Đại bàng và một hàng chữ: Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm. Ðó là 3 tín niệm mà một sĩ quan phải đội ở trên đầu. Không hiểu xưa kia và bây giờ, trong chúng ta đã có bao nhiêu người còn nhớ? Bao nhiêu người đã quên? Qua kính chiếu hậu, tôi nhìn thấy ông trở vào trong nhà. Lưng thật thẳng, mặt ngước cao, ông có dáng của một cây tùng chẳng cong lưng khi gặp bão"

Vâng, đó chính là hình ảnh đích thực của anh cả Phan văn Huấn và những đồng đội của anh trong Gia đình 81/BCD - LLĐB. Tới nay, dù tuổi đã cao, họ vẫn sống như những người lính đích thực của thời trận mạc.
Vũ Ánh

Sunday, March 15, 2026

Tình trạng sức khỏe của C/H Mai Xuân Bình Đoàn 71 Sở Công Tác

 
Nha Kỹ Thuật.DFW đi thăm Anh Mai Xuân Bình ở nhà thương Methodist Dallas Medical Center.Điện thoại: 214-947-8181
Phòng # 8001 Schenden Tower, sức khỏe tiến triển tốt, nhưng còn phải Rehab tập đi sau khi mổ cục bướu gần cột xương sống (Thần kinh Toạ) bướu hiền. Hiện tại
Bình bị thiếu nước và được chăm sóc tốt, vì có nhiều y tá trẻ đẹp nên Bình muốn ở lâu hơn một tí.
Trong hình: Cựu Th/Tướng Lương Xuân Việt, Võ Tấn Y 68/71, Nguyễn văn Thông 11, Nguyễn Ngọc Quý 72, Trần Thanh Toán 75, Nguyễn Toàn 71.
Hãy Cầu nguyện cho Bình sớm Bình Phục
Võ Tấn Y 

Thursday, March 12, 2026

Phân Ưu - Đại Tá Phan Văn Huấn CHT Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù


Đại Tá Phan Văn Huấn đã tung cánh dù bay xa vào lúc 9 giờ tối ngày 10 tháng 3 năm 2026 tại Santa Ana California .
Đại tá Phan Văn Huấn sinh vào tháng 6 năm 1933 tại Thừa Thiên, Huế.
-Ngày 1/10/1953, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ và theo học khóa 10, trường Võ Bị Đà Lạt.
-Tháng 8 năm 1970, ông được thăng cấp Đại Tá tại mặt trận.
-Năm 1975, khi Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng, ông đã ở lại với binh sĩ và bị 13 năm tù trong các trại khổ sai từ Nam ra Bắc.
-Năm 1988, ông ra tù với tấm thân bệnh tật vì những thương tích chiến trường và lao tù hành hạ. Ông cùng vợ và 8 người con sống cơ cực, thiếu thốn trong một căn nhà gỗ, mái tôn vách ván cũ kỹ tạm bợ tại Ấp Tân Thái Sơn, cạnh Tân Phú, Quận Tân Bình.
-Năm 1992, ông được định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O.
Hiện đang chờ cáo phó chính thức của Gia Đình
-Tang Lễ sẽ cử hành vào ngày thứ Hai 23 tháng 3 năm 2026 tại Peek Family Westminster California Phòng Số 1