Tuesday, October 19, 2021

Phim VietNam! VietNam! này gồm 8 tập của Đạo Diễn John Ford (1894 -1973).

Tập 1 Tập 2 Tập 3 Tập 4 Tập 5 Tập 6 Tập 7

 

Tập 8

Phim VietNam! VietNam! này gồm 8 tập của Đạo Diễn John Ford (1894 -1973). "Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971." Vì một lý do thầm kín nào đó mà phim này nay mới được xem trên mạng internet youtube.

 
Vietnam! Vietnam!
Phim đang phổ biến trên mạng Internet tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973).
Ông đoạt tất cả 4 giải Oscars vào năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm. Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon.
Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 37 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Đây là một phim tài liệu rất có giá trị về sự thật của chiến tranh VN, với cái nhìn công bằng và khách quan của người Mỹ.
- Phim cho thấy lý do mà Hoa Kỳ đổ quân vào VN vì thấy rõ ý đồ của Hà Nội là muốn xâm chiếm miền Nam bằng vũ lực với sự giúp đỡ của Trung cộng.
- Cho thấy hình ảnh gian ác của cộng sản VN bằng lời kể của viên phi công Mỹ ở buổi họp báo khi được trả tự do là ông bị đành đập và tra tấn khi bị bắt và bị buộc phải nói láo là được Hà nội đối xử tử tế.
- Cho thấy hình ảnh nhân đạo của người lính Việt nam Cộng Hòa khi chăm sóc vết thương của các tù binh Việt cộng, mà nói xin lỗi, mặt mày coi rất hung ác và ngu dốt, không có vẻ vì là người có văn hóa hết so với hình ảnh của người lính miền Nam.
- Cho thấy cả một làng bị Việt cộng tàn sát, xác đàn bà trẻ con nằm ngổn ngang.
- Trong cảnh đám biểu tình chống chiến tranh ở Sài gòn do bọn phản chiến Mỹ và Việt cộng nằm vùng tổ chức, thì có một người Hung Ga Ry nhào lại đám phóng viên truyền hình chưởi vào mặt bọn phản chiến như sau: ''Tụi bây là đồ ngu dốt mới làm chuyện này, bởi vì tụi bây không biết gì về Cộng sản hết. Mọi người dân miền Nam VN đáng được hưởng một huy chương vì đang đấu tranh chống bọn Cộng sản, và cả mọi ngừơi Mỹ đang chiến đấu nữa''. Bọn biểu tình đứng chung quanh im ru không dám nói một lời.

Phần 2 là nói về sự tranh luận của quốc hội HK và dư luận về có nên tiếp tục viện trợ cho miền Nam VN hay không? Thì có người nói chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh không thể thắng được vì Mỹ không hiểu được người VN và nếu có thắng được HN thì liệu TC có để yên?

Tôi thích nhất lời nói nhân đạo của TT Regan là ''Liệu chúng ta có thể vẽ một lằn ranh giữa sinh mạng con người? Một sinh mạng là một sinh mạng, không thể nói 1 sinh mạng người Mỹ có thể thay thế 1000 sinh mạng người Việt'', khi ông muốn nói việc Mỹ muốn rút lui để tự quân đội miền Nam chống cộng sản.
Phần kết luận là câu hỏi của lương tâm người Mỹ là ''Liệu miền Nam VN có thể chiến đấu để bảo vệ tự do sau khi HK rút quân khi mà những họng súng của CS trong miền Nam không bao giờ ngừng nổ''.

Nên nhớ cuốn phim này được thực hiện vào lúc Hoa Kỳ đang rút quân khỏi VN, vì vậy đã bị bộ thông tin của Mỹ cấm chiếu vì không muốn dân Mỹ thấy đây là một cuộc chiến thật sự chống chế độ cộng sản giữa HK và nhân dân miền Nam VN và cộng sản Bắc Việt, vì đã lỡ nói xa lầy rồi... Vì vậy không thể nói đây là phim tuyên truyền láo khoét giống như những phim của các chế độ cs.

Đoạn phim này bị cấm vào thời đó vì nó nói lên sự thật phũ phàng dân Mỹ bị một quả lừa của Cộng sản và luận điệu nhút nhát chủ bại của một số chính khách.
Trong các lời tuyên bố đó, đáng chú ý nhất là lời của Thượng nghị sĩ Ronald Reagan " .... Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and comming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generation's Viet Nam borned ."
Tạm dịch : ".... Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh tại Viêt Nam về sau."

Lời tiên đoán này, nay đã thành sự thật!!!
=======================
Tài Liệu
(14.02.09) cuốn phim VietNam! VietNam! gồm 8 tập của Đạo Diễn John Ford (1894 -1973) . "Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971." Vì một lý do thầm kín nào đó mà Phim này nay mới được xem trên mạng internet youtube .

Wednesday, October 13, 2021

Tin buồn Nha Kỹ Thuật C/H Lê Văn Tỵ Đoàn Công Tác 75 đã tung cánh dù bay xa

Kính thưa quý anh chị em,
Chúng tôi vừa nhận được tin từ anh Nguyễn đức Nhữ thông báo:
C/H LÊ VĂN TỴ, Đoàn 75 vừa qua đời tối 12 rạng 13/10/2021 tại Lâm Đồng, Việt Nam.
Anh Nhữ kêu gọi anh chị em nếu được, xin giúp đở một phần cho tang lễ vì gia đình anh Tỵ đang trong tình trạng khó khăn. 
Để kịp thời giúp đở cho gia đình anh Tỵ, quý anh chị em nên gọi điện thoại cho chúng tôi để T/H xuất quỹ gởi trước và gởi check về sau.
Như thường lệ T/H sẽ gởi yễm trợ trước cho gia đình $150.
Thay mặt T/H, Chúng tôi thành kính chia buồn cùng gia đình chiến hữu Lê Văn Tỵ. Mong c/h an nghĩ trong cỏi vĩnh hằng.

Check xin ghi: THNKT và gởi về 32330 Seneca St, Hayward CA 94544.
Đ/T 510-859-5711
Zelle: Hoang Le 5108595711.

Cám ơn quý anh, chị, em .

Kính báo
Lê Hoàng
 
ĐÓNG GÓP GIÚP C/H  LÊ VĂN TỴ.
 
- Tổng Hội NKT $150
- Phạm Hoà  $50
- Nguyễn ngọc Á $50 
- Lâm ngọc Chiêu $50
- Trần quyết Thắng $50
- Bùi Thượng Khuê $100
- Lê Xuân Steve $100
- Lê văn San  $50
- Nguyễn V Rinh $50
- Hậu duệ Vũ Thảo $100
Hoàng Chiến Trường D75 $100.
- Mai xuân Bình  $50
- Nguyễn văn Toàn $50
- Trần thanh Toán D75 $50
- Nguyễn văn Thông $50
- Phạm sơn Liêm D75 $100
- Đoàn Khánh $50
- Nguyễn quốc anh Tuấn $50
- Hoàng Hương bạn của Nguyễn quốc anh Tuấn- Loan  $50
- Nguyễn bác Ái $100
- Hoàng như Bá $200
-Thầy Hải, Thích hữu Nguyện DCT75 $100
- Nguyễn văn Ẩn 11/75 $100
- Nguyễn ngọc Tùng $50
- Đào mạnh Dũng $100
 
Số tiền ĐÓNG GÓP GIÚP TANG LỄ C/H  LÊ VĂN TY đã được $1,950.00
 
Chúng tôi xin đóng sổ để kịp chuyển tiền vê xây mộ cho anh Tỵ 
(C/H  LÊ VĂN TỴ là em của anh Lê văn Hữu)
 
TTK/THNKT Lê Hoàng 
Các C/H NKT D72 đế viếng tang lễ C/H Tỵ
 
Các C/H và gia đình C/H Tỵ
Kính quý anh chị em.
Con gái của c/h Lê văn Ty, Lê Trần thị Tường Vy đã nhận đủ số tiền của quý anh chị em yễm trơ gia đình và gởi lời cám ơn đến quý anh chị em đã giúp đở gia đình lúc khó khăn trong tang lễ. Nhất là quý anh em NKT ở Việt Nam đã không ngại vì dịch bệnh, đã đến chào tiễn đưa người đồng đội.
Kính báo.

Lê Hoàng TTK/THNKT

Tuesday, October 12, 2021

An Lộc địa sử lưu chiến tích, Biệt Kích Dù vị quốc vong thân - Biệt Kích Lưu Danh, Biệt Kích Đời

Bài thơ dưới đây của một người lính Biệt Kích vô danh. Anh là một hạ sĩ trẻ của biệt-đội I. Tháng 1/75 nhảy vào Phước Long. Bị thương và bị bắt. Trong giờ phút cuối cùng của đời người, anh đã cố viết được một bài thơ rất cảm động với mong muốn gửi tặng cô giáo Pha.
Anh ấy đã chết sau đó 8 ngày và bài thơ đã được giao lại cho một người bạn đồng cảnh ngộ. Và anh bạn ấy đã học thuộc lòng mang tới vùng đất Tự Do từ lao tù CS. Tựa bài thơ đó là “Gửi Em Cô Gái Bình Long.” 

Gửi Em Cô Gái Bình Long ! 

Nhớ theo Hổ Xám* vào An Lộc 
Đội pháo trên đầu như đội mưa 
Múa kiếm đứng ngăn thù cửa Bắc 
Mà tưởng mình là Nguyễn Huệ xưa. 

Trong tiếng đạn reo mù khói trận 
Bỗng gặp em, cô giáo như mơ 
Em ngồi rũ tóc trong hầm tối 
Đọc tiếng kinh cầu, như đọc thơ. 

Lạy Chúa con là người ngoại đạo 
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời 
Chúa ơi, Biệt Kích là thi sĩ 
Thi sĩ cầm gươm như đi chơi. 

"An Lộc địa sử lưu chiến tích 
Biệt Kích dù vị quốc vong thân" 
Lời thơ hôm ấy sao hay quá 
Nghĩa trang buồn như tiếng lá rơi. 

Pha hỡi, bây chừ em đâu nhỉ ? 
Cô giáo hôm xưa đã lấy chồng ? 
Chúc em hạnh phúc răng long bạc 
Còn anh hôm nay vào Phước Long. 

Anh theo quân vào nơi hiểm địa 
Hét tiếng xung phong đến vỡ trời 
Bắn cháy xe tăng như uống rượu 
Mà tưởng em đang rót chén mời. 

Bóng địch chập chùng nơi cửa ngõ 
Ba trăm quân đánh một sư đoàn 
Mãnh hổ nan địch quần hồ bại 
Anh thối binh về mà thấy oan. 

Nửa chừng lại gặp cơn bão lửa 
Toán Delta bị kích giữa đàng 
Ôi lại Phước Long lưu chiến tích 
Anh bị trúng đạn giữa rừng hoang. 

Và chừ giờ đang ngồi bó gối 
Tay xích chân xiềng trong trại giam 
Máu bụng vẫn tuôn ra như suối 
Anh biết mình thôi thế là tan. 

Nhưng giây phút cuối anh vẫn nhớ 
Màu áo hoa dù nón mũ xanh 
Nhớ dáng em xưa cô giáo nhỏ 
Họa bút thành thơ như tiếng oanh. 

"Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu 
Cổ lại chinh chiến kỷ nhân hồi" 
Xá gì một cõi đi về đất 
Biệt Kích lưu danh, Biệt Kích đời".

Biệt Kích vô danh.
 
(*) Hổ Xám: Th/Tá Phạm Châu Tài LD81BCD

Friday, October 8, 2021

Today we pause to remember one of SOGs legends, SFC Jerry M Shriver who went MIA on April 24, 1969.

Trong thời gian cuối năm 1968, đầu 1969, bộ chỉ huy Nam (CCS) thường xuyên cho những toán biệt kích 6 người xâm nhập vào khu vực Lưỡi Câu (Fish Hook), giữa biên giới VNCH và Cambodia. Các toán biệt kích SOG có nhiệm vụ theo dõi các hoạt động càng ngày càng gia tăng của quân đội Bắc Việt và VC trong khu vực.
        Đó là nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, ít có toán biệt kích nào xâm nhập, hoạt động quá ba ngày. Có toán chỉ mới vào được chừng 30 phút đã bị địch phát giác, tấn công. Một vấn đề khó khăn nữa, tìm được một bãi đáp trực thăng, không có người canh gác là cả một vấn đề. Gần như tất cả mọi bãi đáp đủ rộng cho trực thăng đáp đều đã bị địch quân để ý, cho người canh gác.
        Để làm thay đổi tình thế, ngăn chặn ảnh hưởng của địch trong khu vực (Lưỡi Câu), Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam (cơ quan MACV) soạn thảo một kế hoạch tấn công cơ quan đầu não, Trung Ương Cục (R) Miền Nam Việt Nam (COSVN). Bộ chỉ huy (R) của địch (tin tình báo) với căn cứ, hầm hố, điạ đạo nằm trong khu vực Lưỡi Câu, sâu trong đất Miên khoảng một dặm, cách đồn điền cao su Minot khoảng 14 dặm về hướng đông nam, cách căn cứ hành quân tiền phương Quản Lợi (của đơn vị SOG) 20 dặm và cách Tây Ninh 28 dặm về hướng đông bắc.
        Sau khi nhận lệnh hành quân đưa đại đội xung kích Hatchet Force đi hành quân trên đất Miên từ mấy ngày trước, trung tá Earl Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột báo lên Hành Quân 35 (Oplan 35) và bộ chỉ huy đơn vị SOG trong Saigon rằng theo ý kiến của ông ta, kế hoạch tấn công Trung Ương Cục Miền Nam trên đất Miên khó thành công. Theo kế hoạch, đơn vị Hatchet Force sẽ tìm cách bắt sống tù binh để lấy tin tức, và báo cáo kết qủa trận thả bom của phi cơ B-52 trên bộ chỉ huy Trung Ương Cục. Trung tá Trabue hiểu rất rõ nhiệm vụ khó khăn, nếu chỉ đưa một trung đội (Hatchet Force) thì nên hủy bỏ kế hoạch tấn công, còn về chuyện phi cơ B-52 thả bom, địch quân cũng đã đề phòng trước.
        Độ lớn của đơn vị Hatchet Force cũng phải giới hạn đủ cho 9 trực thăng chở quân thuộc phi đoàn 195 Trực Thăng Tấn Công của Lục Quân Hoa Kỳ. Các trực thăng chỉ mất mười phút bay đoạn đường 20 dặm từ phi trường Quản Lợi đến mục tiêu. Chín chiếc trực thăng gồm có 1 trực thăng chỉ huy (C&C), 4 trực thăng võ trang yểm trợ, chỉ còn lại bốn chiếc để chở quân... Do đó bộ chỉ huy Nam (CCS) chỉ có thể đưa một trung đội Hatchet Force đi tấn công.
        Ngày 24 tháng Tư năm 1969, đại úy William O’Rourke Jr., đại đội trưởng đại đội Hatchet Force sẽ chỉ huy đơn vị tấn công, phụ tá là đại úy Paul D. Cahill, trung úy Gregory M. Harrigan, và trung úy Walter L. Marcantel, sau đó là trung sĩ nhất Jerry M. “Mad Dog” Schriver. Trung sĩ Earnest C. Jamison, y tá đơn vị, và các binh sĩ người Thượng đơn vị Hatchet Force sẽ được trực thăng đưa vào bãi đáp trực thăng, qua khỏi biên giới Việt-Miên khoảng một dặm rưỡi.
        Tất cả trực thăng trong hợp đoàn tham dự cuộc đổ quân, theo lệnh của chiếc trực thăng chỉ huy. Một chiếc phi cơ thám thính FAC bao vùng sẽ điều động các phi tuần phi cơ chiến thuật lên oanh kích nếu cần thiết.
        Trước khi hợp đoàn trực thăng cất cánh vào lúc rạng đông, trung sĩ nhất Shriver leo lên, ngồi trên chiếc trực thăng dẫn đầu. Các phi cơ chiến lược B-52 đang thả bom trên khu vực tình nghi có bộ chỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam. Khi đoàn trực thăng cất cánh, chiếc trực thăng chở đại úy O’Rourke cùng ban tham mưu của ông ta bị trở ngại kỹ thuật nên phải quay lại, do đó người chỉ huy trận tấn công là đại úy Cahill.
        Theo dự trù, đoàn trực thăng sẽ đến bãi đáp khi lớp bụi sau trận thả bom lắng xuống, nhưng hợp đoàn trực thăng bay lạc, không tìm ra bãi đáp. Phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ bay lòng vòng (để bị lộ) mới tìm ra được ba hố bom để đáp xuống, cho đơn vị (trung đội) Hatchet Force tiến vào khu vực hành quân. Sau đó hợp đoàn trực thăng bay về phi trường Quản Lợi, cũng là căn cứ hành quân tiền phương của đơn vị SOG (CCS) nơi phiá nam.
        Khi ra khỏi trực thăng, các biệt kích quân nhẩy xuống một trong hai hố bom lớn, bố trí, chỉ cách một ổ súng đại liên của địch khoảng 30, 50 thước. Các trực thăng vừa bốc lên cao, ra khỏi bãi đáp khoảng 20 thước, tiếng súng đại liên, súng AK từ các công sự phòng thủ, giao thông hào của địch nổ dòn, bắn gục những ai còn trong bãi đáp, chưa kịp nhẩy xuống hố bom tránh đạn.
        Từ trong hố bom, trung sĩ nhất Jerry M. “Mad Dog, Chó Điên” Shriver gọi máy liên lạc, báo cáo, khẩu đại liên của địch đặt phiá bên trái đàn áp không cho toán quân dưới quyền anh ta ngóc đầu lên được. Anh ta yêu cầu, phần còn lại của trung đội Hatchet Force tác xạ vào khẩu đại liên để làm giảm bớt hỏa lực của địch. Đại úy Cahill, trung úy Marcantel, và trung sĩ Earnest C. Jamison trú trong hố bom ở giữa cũng nằm chịu trận, không cựa quậy được.
        Chiếc trực thăng chỉ huy báo cho đơn vị Hatchet Force biết sẽ điều động không quân chiến thuật (khu trục cơ hoặc phản lực) lên oanh kích, yểm trợ. Trong khi đó các trực thăng võ trang bay vào bắn hỏa tiễn, đại liên minigun sáu nòng xuống vị trí của địch, để đỡ cho trung đội Hatchet Force. Khi một chiếc trực thăng võ trang chúi xuống, bắn đại liên, người xạ thủ đại liên báo cáo, ổ súng đại liên của địch đặt trong pháo đài xây bằng bê tông, đạn trúng không ăn thua.
        Trên chiếc trực thăng chỉ huy có thiếu tá Benjamin T. Kapp Jr., một cấp chỉ huy trên căn cứ hành quân tiền phương, quan sát trận điạ và báo cáo về cho trung tá Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột. Từ trên cao, thiếu tá Kapp nhìn rõ vị trí trung đội khai thác (xung kích) Hatchet Force, bị hai khẩu đại liên của địch đặt trong pháo đài kiên cố chế ngự.
        Khoảng 10, 15 phút sau, đại úy Cahill nghe Shriver báo cáo, sẽ cùng với năm biệt kích Thượng sẽ chạy vào bià rừng phiá tây bãi đáp trực thăng, rồi từ đó tấn công khẩu đại liên. Nhìn qua hố bom bên kia, đại úy Cahill trông thấy sáu người nhẩy lên khỏi hố bom, chạy thật nhanh vào hàng cây nơi bìa rừng. Trong lúc chạy, Jerry Shriver vẫn liên lạc với phi cơ quan sát FAC.
        Ngồi trong hố bom quan sát, đại úy Cahill trông thấy Shriver chạy vừa đến hàng cây thì bị trúng mấy viên đạn, gục xuống, và cũng không nghe được những lời đối thoại giữa Shriver và phi công FAC. Viên phi công FAC cố gắng liên lạc, gọi Shriver thêm mấy lần, nhưng không có tiếng trả lời. Đại úy Cahill tin rằng, Shriver đã trúng đạn, chết dưới hàng cây.
        Tiếng súng vẫn nổ đều khắp nơi, trung sĩ y tá Jamison bò ra khỏi hố bom để lôi một biệt kích Thượng xuống hố bom, anh ta trúng đạn chết ngay cạnh binh sĩ Thượng. Ít phút sau, đại úy Cahill đưa đầu lên khỏi hố bom để quan sát chiến trường, một viên đạn AK trúng vào miệng ông ta, trổ ngược lên con mắt bên phải. Đau đớn vì vết thương, ông ta không nhìn được gần ba mươi phút, và hư luôn con mắt bên phải.
        Trong khi trung đội Hatchet Force đang lâm nguy, các toán biệt kích thuộc bộ chỉ huy Nam (CCS) đang xâm nhập hoạt động dò thám, được lệnh tìm vị trí an toàn, nằm im, để tất cả trực thăng võ trang bay đi cấp cứu đơn vị Hatchet Force.
        Trên bầu trời, bộ chỉ huy Trung Ương Cục, số trực thăng võ trang đã tăng lên 8 chiếc. Trung úy Harrigan yêu cầu các trực thăng xử dụng hỏa lực của hỏa tiễn và đại liên minigun sáu nòng đàn áp các khẩu đại liên của địch. Ông ta điều chỉnh hỏa lực trực thăng bắn phá thêm 45 phút rồi trúng đạn bị thương nặng. Trước đó Greg Harrigan báo cáo hơn nửa trung đội Hatchet Force đã chết hoặc bị thương. Sau đó trung úy Harrigan trúng đạn tử trận.
        Một toán biệt kích gồm có hai quân nhân Hoa Kỳ, bốn biệt kích Thượng được đưa vào một hố bom thứ ba cách bãi đáp khoảng 80 thước, tăng cường cho trung đội Hatchet Force. Nhiệm vụ của toán biệt kích sẽ tấn công theo sườn hướng tây phòng tuyến của địch, tiến sát đến pháo đài, ném lựu đạn vào lỗ châu mai phá khẩu đại liên. Không ngờ toán biệt kích cũng bị hỏa lực của địch đàn áp, kẹt trong hố bom, không tiến lên được.
        Tám trực thăng Huey võ trang luân phiên nhau bắn yểm trợ và bay về phi trường Quản Lợi lấy nhiên liệu, hỏa tiễn, đạn dược. Trung tá Trabue chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) xin thêm hai trực thăng Cobra thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 20 Không Pháo (Arial Artillery) lên tham chiến, cũng không xong vì pháo đài của địch được xây bằng bê tông.
        Trung tá Trabue yêu cầu phi công FAC xin các phi tuần không quân chiến thuật lên thả bom, nhưng được trả lời, không có sẵn. Ông ta liên lạc về Hành Quân 35 (Oplan 35) của đơn vị SOG, và khoảng 45 phút sau, có một phi tuần phản lực lên oanh kích. Sau mấy vòng phi cơ oanh kích, thả bom, trung đội Hatchet Force báo cáo, hỏa lực của địch nơi bãi đáp vẫn còn mạnh, trực thăng chưa thể vào được để di tản trung đội.
        Trung tá Trabue quyết định xử dụng bom Napalm để cứu đơn vị Hatchet Force. Ông ta yêu cầu thả bom Napalm dọc theo phòng tuyến xây bằng bê tông của địch. Sau hai qủa bom Napalm, trung đội Hatchet Force báo cáo, hỏa lực của địch giảm đi nhiều và trực thăng có thể vào di tản.
        Bốn trực thăng Huey đáp xuống di tản trung đội Hatchet Force. Khi trực thăng vừa bốc lên, phi hành đoàn một trong bốn chiếc trực thăng nhìn xuống hố bom ở giữa bãi đáp, trông thấy có người chuyển động, vội báo cho phi công quay lại. Trung úy Daniel Hall nhẩy ra khỏi trực thăng lôi lên được quân nhân LLĐB/HK mang máy truyền tin bị thương nặng và xác của trung úy Harrigan.
        Trong số 18 biệt kích quân thộc trung đội Hatchet Force và 6 người trong toán biệt kích vào sau. Toán biệt kích về đầy đủ, và 10 biệt kích quân trong trung đội Hatchet Force, tất cả đều bị thương. Quân nhân y tá Ernest Jamison được báo cáo tử trận, không lấy được xác. Shriver cùng với năm biệt kích Thượng được ghi nhận “Mất Tích” (MIA).
        Trung sĩ nhất Jerry Michael “Mad Dog” Shriver rất tốt với các binh sĩ Thượng của anh ta. Jerry nói được tiếng Rhade, lúc nào cũng để ý nếp sống của người Thượng, xử dụng tiền lương của mình mua thực phẩm, quần áo giúp đỡ gia đình binh sĩ trong trung đội. Trước khi “mất tích” Jerry chỉ còn 3 tuần lễ phục vụ trong ba chuyến (tour) tình nguyện qua Việt Nam chiến đấu.

Dallas, TX.
vđh
 
This is a write-up on Jerry M. Shriver and others killed in action in either Laos or Cambodia.
"Mad Dog," as he was aptly called in the SOG (Special Forces) group at FOB#2 Kontum, VN. It seemed to me, that every time one of these teams got into a perdicamint we were on call.
I grew rather close to "Mad Dog" during my tour with the 170th AHC Bikinis in 1967.
He was a peculiar person.
My children have heard many tales of my crew inserting and extracting Jerry's team of Special Forces.
Upon my return to VN in 1969, I heard that Jerry was dead and the NVA had decapitated him to show proof that he would not bother them anymore.
 
Today we pause to remember one of SOGs legends, SFC Jerry M Shriver who went MIA on April 24, 1969. Jerry is credited with taking part in an extraordinary number of recon missions with SOG.

Born Jerry Michael Tate, he was a military brat. His biological father, Henry A Tate, Jr., was in the Air Corps and Air Force. His parents married in 1941 and his father served during WW II in Italy. After the war, the family spends time in Germany and Bermuda. By the time he was 12, Jerry had three younger siblings and his parents had split up. Soon afterwards his mom "Doll" marries another career Air Force man, Dale L Shriver. Jerry and his siblings all take the Shriver surname. Three more siblings were added to his family.

In Dec 1958 - 17 year old Jerry Shriver drops out of South Fork High School (Miranda, CA) to join the Army. He is listed as living in Weott, Humboldt County, California. His mom and step-father live in Sacramento.
After basic training at Fort Ord, Jerry receives infantry/11B training. He probably finished all of his initial training in early 1959. It’s unknown what he does for the next few years, but sometime prior to 1961 he attends jump school and then is assigned to Wildflecken, Germany as a member of Co A, 75th Infantry, serving on a Long Range Reconnaissance Patrol (LRRP) team.

Jerry’s years as a LRRP with 75th are told in a 3 page article in the Fall 2008 75th Ranger Regiment Association's newsletter. 'Tales of Digger' (Digger was Jerry's nickname) show that his eccentric and sometimes risk taking nature was well established before he stepped foot in Vietnam. On the flip side of the coin his passion for training and conditioning himself into a fierce fighting machine and his talent to put his skills to good use was recognized.

In 1965 Jerry was at Fort Bragg attending Special Forces training. His off base housemates were Ron Dahle & Roy Link. His rather bizarre and dangerous shenanigans continued at Fort Bragg, but he managed to arrive in Vietnam in 1966 wearing Staff Sergeant stripes and was soon promoted to Sergeant First Class.

On 8 October 1966 Jerry earns the first of his seven Bronze Stars w/V device and 19 days later he earns his first Silver Star while serving as an assistant team leader on a recon team.

Below is a list of the personal decorations he received:
For action on 08 Oct 1966 Bronze Star w/v
For action on 27 Oct 1966 Silver Star
For action on 02 May 1967 Bronze Star w/v
For action on 05 May 1967 Soldier's Medal
For action on 10 Aug 1967 ARCOM w/V
For action on 23 Sep 1967 Bronze Star w/v
For action on 23 Oct 1967 Bronze Star w/v
For action on 13 May 1968 Bronze Star w/v
For action on 04 Nov 1968 Bronze Star w/v
For wounds on 12 Mar 1969 Purple Heart
For action on 24 Apr 1969 Silver Star (awarded posthumously 2 Oct 1974)

By 1968 the 5th Special Forces Group executive officer, Lieutenant Colonel Charlie Norton, had been watching SOG recon casualties skyrocket and grew concerned about men like Mad Dog whose lives had become a continuous flirtation with death. Norton went to the 5th Group commander and urged, "Don't approve the goddamn extensions these guys are asking for. You approve it again, your chances of killing that guy are very, very good." But the group commander explained SOG needed experienced men for its high priority missions. "Bullshit," Norton snapped, "you're signing that guy's death warrant." Eventually 5th Group turned down a few extensions but only a very few; the most experienced recon men never had extensions denied. Never.

Unless you were one of Mad Dog's close friends, the image was perfect prowess -- but the truth was, Shriver confided to fellow SOG Green Beret Sammy Hernadez, he feared death and didn't think he'd live much longer. He'd beat bad odds too many times, and could feel a terrible payback looming.

It was said that by his third tour of duty Shriver had become troubled and anti-social. He had even started to drink heavily and was said to be having trouble sleeping. He slept with his M3A1 (Grease Gun) Suppressed Sub-machine Gun under his pillow. But most people who served with him acknowledged that he was also a brave, dedicated, and committed soldier, who would do anything to help his team.

"He wanted to quit," Medal of Honor winner Fred Zabitosky could see. "He really wanted to quit, Jerry did. I said, 'Why don't you just tell them I want off, I don't want to run anymore?' He said he would but he never did; just kept running."

"Mad Dog was wanting to get out of recon and didn't know how," said recon team leader Sonny Franks, though the half-measure came when Shriver left recon to join his teammate O’Rourke’s Reaction Company.
LTC Earl Trabue stated “I had taken Shriver out of Recon and put him in the Reaction Company commanded by O'Rourke based on advice from my Sergeant Major who told me Shriver was burnt out. I also refused Shriver's request for another extension. I personally told him that he needed a rest. I had a rule that at 10 days before DROS no one went on a mission. Shriver was two days short of the 10 days when the mission took take place.”

As his longtime friend Ron Dahle has said about Jerry, "Jerry had to die in Nam, there was no place in a civilized world for him. He was great sober (seldom) unfortunately he was a total alcoholic and totally crazy when drunk. Don't misinterpret what I am saying, I loved Jerry to death, but what was...was."

When Jerry boarded the helicopter at Quan Loi (a small SOG compound) on the morning of April 24, 1969 it was thought the COSVN (North Vietnamese Army Headquarters) raid would make a fitting final operation; Shriver could face his fear head-on, charge right into COSVN’s mysterious mouth and afterward at last call it quits.

The story of Jerry’s last mission by LTC Earl Trabue and others:
LTC Trabue: “I was Flying C&C and was there from the git-go. We had to fly around the area for about 30 minutes to find three dry bomb holes (indicating that they were fresh). We knew at the start that due to aircraft availability it would be a platoon sized mission. However, the reason that there were so many officers on it was that CPT Bill O'Rourke wanted an officer in each flight team. As I had assigned the mission to O'Rourke's company, it was his responsibility to select the men who would go in on the ground. He decided to go in and command the ground operations. His plan was to go in on the last ship to land in order that he might see how the teams were dispersing on the ground. There was an engine failure in his ship at take off. We all knew that the mission was stupid from the time we got the order. I personally contacted Col Johnson at Ops 35 (My immediate Supervisor at SOG) and told him that with the manpower we would have the Mission was not appropriate. We were supposed to capture a prisoner and conduct a bomb assessment. I was told that the B-52s bombs would stun all of the enemy so bad it would be a piece of cake. So much for rear echelon knowledge of the real world in the field. “
Shriver's platoon was air assaulted into Cambodia by four helicopters. Upon departing the helicopter, the team had begun moving toward its initial target point when it came under heavy volumes of enemy fire from several machine gun bunkers and entrenched enemy positions estimated to be at least a company-sized element.

Capt. Cahill and Sgt. Ernest C. Jamison, the platoon medical aidman, took cover in a bomb crater. Cahill continued radio contact with Shriver for four hours until his transmission was broken and Shriver was not heard from again.

LTC Trabue: “Shriver called from his hole over to Cahill and told him he planned to try to get into the trees and get behind the VC. Cahill, who was now the ground commander, told him not to go as the fire was too hot. Shiver went anyway with five ‘Yards. All were killed. Cahill observed Shiver getting hit and going down just short of the tree line. “

It was known that Shriver had been wounded 3 or 4 times. An enemy soldier was later seen picking up a weapon which appeared to be the same type carried by Shriver.

Jamison left the crater to retrieve one of the wounded Montagnards who had fallen in the charge. The medic reached the soldier, but was almost torn apart by concentrated machine gun fire. At that moment Cahill was wounded in the right eye, which resulted in his total blindness for the next 30 minutes. The platoon radioman, Y-Sum Nie, desperately radioed for immediate extraction.

Maj. Benjamin T. Kapp, Jr. was in the command helicopter and could see the platoon pinned down across the broken ground and rims of bomb craters. North Vietnamese machine guns were firing into the bodies in front of their positions and covering the open ground with grazing fire. The assistant platoon leader, 1Lt. Gregory M. Harrigan, reported within minutes that half the platoon was killed or wounded. Harrigan himself was killed 45 minutes later.

LTC Trabue: “The first time the C&C ship went back to the base for fuel gathered up a recon team and put them on the ground to try and infiltrate around to the rear of the enemy. The team claimed that they could not get out of the hole I had put them in as they were under fire. During the action, when it became apparent that the choppers did not have enough fire power to suppress the VC, I got a message relayed to Ops 35 telling them that if I did not get close air support we would lose every one on the ground. I got the support in the form of several sorties but their bombs were having no effect. After the war I found out from one of the gunners from the 195th, which was our Helicopter support, that the bunker complex we were fighting was made of Concrete. He saw them when they went in low to strafe the area. Finally I called for napalm and that stopped the fire from the VC long enough for us to evacuate the survivors and some of the dead. Jamison was left on the ground (he was dead) because the last pickup ship was receiving fire and had to get out of there.”

After seven hours of contact, three helicopters dashed in and pulled out 15 wounded troops. As the aircraft lifted off, several crewmen saw movement in a bomb crater. A fourth helicopter set down, and Lt. Daniel Hall twice raced over to the bomb crater. On the first trip he recovered the badly wounded radio operator, and on the second trip he dragged Harrigan's body back to the helicopter. The aircraft was being buffeted by shellfire and took off immediately afterwards. No further MACV-SOG insertions were made into the NVA stronghold.

A total of 24 men had been inserted; 17 were recovered, and of those 17, ten were wounded and one was dead (1LT Gregory M. Harrigan). Two Americans and five Montagnards were not recovered; one of the seven, medic SGT Ernest C. Jamison, was known dead, while the other six were listed as Missing in Action.

On the 12th of June 1970, a team from the US Grave Registration Unit arrived at the battle-site to search for seven soldiers who had gone missing during the battle, including Shriver. Although they did recover the bodies of SGT Jamison and one of the Montagnards, no trace of Jerry Shriver or his equipment was ever found.

According to the Task Force Omega site, a Radio Hanoi broadcast indicated that Shriver had been killed in the fighting. However, he was carried as MIA until 10 June 1974, when the Secretary of the Army approved a Presumptive Finding of Death. During this time he was promoted from E-7 to E-8. As of April 2019 his remains have not been repatriated.

There is a memorial marker for Master Sergeant Jerry M. Shriver in the Fort Lawton Federal Cemetery in Seattle, Washington (Plot 4-235, placed 08/22/1974).

He is on "The Memorial Wall " in Washington, D.C. P-26W/L41
He is also featured in January 1997 "Soldier Of Fortune"
He is in the following:
"SOG" by John L Plaster
"Code Name: Copperhead" by Sergeant Major Joe R. Garner
"The Last Medal of Honor" by Pete Billac
………………………………..
Seattle Daily Times, WA, Friday, August 23, 1974, page E11, col. 6
Sergeant honored posthumously

Master Sgt. Jerry Michael Shriver was honored posthumously yesterday at Fort Lawton, the first missing-in-action person from this area to be so honored.

Shriver was pronounced dead by the Army after being missing in Laos five years.

The sergeant's parents, Mr. and Mrs. Dale Shriver of Bellevue, attended the ceremony along with the sergeant's brothers and sisters, Colleen, 18, Bonnie, 17, Patrick, 20, Roger, 27 and John, 23.

Shriver's six posthumous awards include the Silver Star, the nation's third-highest military honor.

Lt. Col. Douglas Horne, special assistant to the chief of staff at Ft. Lewis, presented Mrs. Shriver with an American flag, a Special Forces green beret like Shriver once had worn and a plaque with the six medals attached.

A 21-gun salute honored the sergeant. Members of Company B, 75th Rangers, 9th Infantry Division, Fort Lewis, served as the honor guard.

Tuesday, October 5, 2021

NT Võ Đại Tôn - SYDNEY 01.10.21 TÂM SỰ RIÊNG VÀ LỜI CHÂN THÀNH CẢM TẠ...

Trưa ngày 20.9., tôi bị té ngã từ ghế ngồi xuống nền nhà, bất tỉnh sau khi bị chóng mặt, mấy phút sau mới tỉnh lại. Đến chiều thì lại bị té thêm một lần nữa, lần này bất tỉnh rất lâu, phải kêu xe cứu thương đến cấp cứu và chuyển vào bệnh viện ngay. Bác sĩ cho thở ống oxy suốt mấy tiếng đồng hồ nhưng vẫn không thở được. Đến khuya thì bất tỉnh luôn, các bác sĩ túc trực cho tiêm thêm máu vào tim phổi, và gọi thêm các bác sĩ chuyên khoa từ các bệnh viện khác đến phụ giúp, đến gần sáng mới tỉnh lại. Ai cũng cho đây là trường hợp hi hữu, nghĩ là đã tắt thở luôn. Tôi phải nằm điều trị tại bệnh viện suốt hơn 10 ngày đêm, tiêm thêm đủ loại thuốc và bồi thêm máu vào cơ thể vì máu trong người tôi chỉ còn dưới 50%, và các bộ phận nội tạng đều bị ứ máu đen, lở loét, từ tim phổi, gan và bao tử, nhiếp hộ tuyến. Ngày hôm qua, 30.9., được cho về nhà để uống thuốc đủ loại tiếp và đến ngày 20.10 sẽ vào lại bệnh viện tái khám, nếu cần thì phải giải phẫu bao tử để cắt bỏ chỗ bị lở loét. Hiện tại thì đang dưỡng bệnh tại nhà, không hoạt động gì được. Tôi vẫn còn đang mệt, phải nằm nghỉ. Mặt mày và tay chân bị sưng phù, biến dạng. Tuổi già thêm nhiều bệnh bất ngờ, đành chấp nhận.
Xin cảm thông cho vì tôi không thể liên lạc được nhiều trong lúc này, và xin Cảm Tạ đã có lòng hỏi thăm sức khỏe của tôi trong thời gian qua.

Kính chúc bình an và xin Đa Tạ.

V.Đ.T. (Sydney)

Jocko Podcast 258 w S.Vietnamese SOG Warrior, Khanh Doan: Impossible Missions w/ John Stryker Meyer

Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan Trong Chiến-tranh Ngoại Lệ.

 Một trong những công-tác bí-mật của SOG bao gồm những hoạt-động chung với Trung-hoa quốc-gia. Sự phối-hợp này nằm trong ước mơ của Tưởng-giới-Thạch là lấy lại lục-địa Trung-hoa bị mất vào tay Mao-trạch-Ðông năm 1949 và trở thành Cộng-hoà nhân-dân Trung-hoa. Ngay từ lúc khởi đầu, người Mỹ đã làm Tưởng thống-chế tràn trề hy vọng. Chẳng hạn Hoa-thịnh-Ðốn giúp đỡ trang-bị cho các du-kích quân của các đảng phái quốc-gia ẩn-náu trong vùng rừng núi Miến-điện chống lại chính-quyền Hoa-lục. Bắt đầu từ năm 1951 và tới hai năm sau đó, mặt trận này đã mở được khoảng 7 trận đột-kích lẻ tẻ vào mạn sườn biên-giới phía Nam của Trung-cộng và tất cả đều không thành-công.

Sau khi chiến-dịch Miến-điện bị thất-bại, hậu bán thập-niên 50, Tưởng củng-cố lại lực-lượng quân-đội. Âm thầm, CIA yểm-trợ những chuyến xâm nhập của các toán biệt-hải thuộc Trung-hoa dân-quốc. Cho tới năm 1957 cường lực này được gia tăng bằng những cuộc đột-kích chớp nhoáng vào lục-địa bởi những toán biệt-kích. Một cuộc tấn-công dữ-dội nhất vào ngày 2/10 gồm 28 BKQ đột-kích cửa sông Pehling ; họ rút lui sau khi bị chống trả bằng pháo-binh và đại-liên của lực-lượng dân quân phòng-vệ.

Những cuộc đột-kích dọc miền duyên-hải lục-địa chỉ làm Trung-cộng hơi bực bội. Tưởng Giới Thạch quyết-định thọc sâu vào nội-địa. Những cuộc hành-quân này phải nghĩ tới việc thả dù những toán biệt-kích. Thi-hành dự-án này, vào tháng 9/1957 Tưởng thân-hành trình-bầy cho đại-sứ Hoa-kỳ ở Ðài-bắc kế-hoạch thành-lập một đơn-vị đặc-biệt xâm nhập vào lục-địa và khích-động dân chúng nổi lên lật đổ chế-độ CS. Phấn-khởi với đề-nghị này, tháng Hai sau đó Hoa-thịnh-Ðốn ra lịnh cho nhóm cố-vấn quân-sự tại Ðài-loan giúp đỡ Tưởng thành-lập một binh-đội lực-lượng đặc-biệt với quân số là 3.000 người.
Không thoả-mãn với chỉ một đội binh 3.000, Tưởng lập thêm 2 binh-đội LLÐB trong liền 2 năm sau đó. Và ông bắt đàu thả họ vào sâu trong lục-địa. Trong một điệp-vụ cuối tháng Tư năm 1960, CIA thả một toán năm người vào tỉnh Anhui. Theo như dự-tính dựa theo tin tình-báo của Ðài-loan toán sẽ đựợc tiếp đón bởi khoảng 500 người dân lục-địa có cảm-tình với Tưởng. Thực-tế, toán nhẩy ngay xuống một công-trường xây cất đập nước và bị rượt đuổi ngay tức-khắc. Liên-lạc vô-tuyến với Ðài-loan, họ xin tiếp-tế. Nhưng lúc này tình-hình chính-trị toàn cầu đang rất phức-tạp. Một chiếc U2 của CIA vừa mới bị bắn rơi bên liên-bang Sôviết, làm cho chính-quyền Eisenhower tạm thời chấm dứt những phi-vụ do-thám trên không-phận các nước thuộc khối CS. Tuyệt-vọng, viên trưởng toán trách than, rồi nổi giận trên tầng số vô-tuyến với viên chức CIA liên-hệ trước khi sa vào tay quân địch.

Những thất-bại này không làm cho Tưởng quan-ngại. Vào mùa hè năm 1961 ông có 4 binh-đội LLÐB với tổng số 12.000 biệt-kích nhẩy dù, một tập-hợp binh chủng đặc-biệt lớn nhất trong các quốc-gia Á-châu. Thêm vào đó, ông lập nên : Phong-trào Quốc-gia chống Cộng cứu quốc với 5.500 tay súng gồm toàn những người di-cư từ lục-địa, đội quân này sẽ dùng làm lực-lượng chính để tấn-công và lật đổ chính-quyền CS Hoa-lục.

Cho dù được tăng số lượng, trận chiến bí-mật của Trung-hoa dân-quốc gặt hái kết-quả rất khiêm-nhường qua những năm đầu của thập-niên 1960. Thường thường, các toán bị bắt ngay sau khi nhẩy dù xuống tới đất. Nhiều lần hệ-thống phòng-không năng-động của Trung-cộng đã bắn rớt máy bay xâm nhập trước khi đến được địa-điểm thả toán: ít nhất 5 máy bay RB-69, loại máy bay nòng cốt dùng để thả toán bị bắn rơi trong năm 1964.

Không-phận Trung-cộng càng ngày càng trở nên nguy-hiểm. Biệt-kích quân của Tưởng quay qua miền biển. Cuộc hành-quân lớn nhất của họ vào mùa hè 1963 khi 26 BKQ của Phong-trào Quốc-gia chống Cộng cứu quốc xử-dụng 2 tầu đổ bộ tiến vào hải-phận Bắc-Việt. Ngáy 23/7 hai tầu này vào tới Bạch-long-vĩ, một đảo nhỏ không dân cư nằm giữa Hải-phòng và đảo Hải-nam. Năm ngày sau, họ đi thẳng lên hướng Bắc, dừng lại ở ven biển Quảng-ninh, từ đó các BKQ chuyển lên các ghe đổ bộ và tiến vào bờ. Họ dự-định xâm nhập dọc theo biên-giới Bắc Việt-nam và Trung-cộng rồi đi sâu vào nội-địa và thiết-lập một nhóm du-kích chống cộng.

Các BKQ chỉ vừa đặt chân lên bãi cát là bị lực-lượng biên-phòng của Bắc-Việt bao vây. Trong cuộc chạm súng, 7 tử trận, 2 tự sát và 17 BKQ bị bắt làm tù-binh.

Ðài-loan không biết là 2 tuần trước đó, Nam Việt-nam đã cho xâm nhập toán biệt-hải tên Dragon cũng vào nơi đó của tỉnh Quảng-ninh, do đó nơi này đang bị canh chừng nghiêm-ngặt và toán BKQ của Trung-hoa quốc-gia đã rơi ngay vào mũi súng chờ sẵn của địch-quân.

Cuộc hành-quân này có vẻ như là thiếu sự hợp-tác chặt chẽ giữa Ðài-bắc và Sàigòn, nhưng thật ra không phải vậy. Thật sự, liên-lạc quân-sự giữa hai quốc-gia đã có từ tháng 5/1960, khi Tưởng gởi 3 sĩ-quan liên-lạc tới Sàigòn để liên-hệ công-tác xâm nhập. Ba tháng sau đó, một toán người nhái của Nam Việt-nam đã qua Ðài-loan để được xuyên-huấn. Tháng Hai sau đó, Ngô-đình-Cẩn người em đầy quyền-lực của TT Diệm thăm viếng Trung-hoa quốc-gia và đề-nghị Ðài-loan gởi huấn-luyện-viên người nhái qua Nam Việt-nam. Trong khi chuyện gởi huấn-luyện-viên qua Nam Việt-nam không bao giờ trở thành hiện-thực, thì cuối năm đó một toán LLÐB Ðài-loan được gởi sang hoạt-động ở vùng châu-thổ sông Cửu-long.

Khi hoạt-động ở vùng châu-thổ, toán biệt-kích Ðài-loan làm việc với cha Nguyễn-lạc-Hoá, một linh-mục Thiên-chúa giáo chống cộng. Cha Hoá đã từng là trung-tá trong quân-đội Trung-hoa của Tưởng khi còn trong lục-địa. Sau khi Tưởng chạy ra Ðài-loan, cha Hoá chạy xuống phương Nam, miền Ðông-dương thuộc Pháp. Ông tìm được nơi trú-ẩn an-toàn dưới chế-độ nhân-ái, trọng Thiên-chúa giáo của giới lãnh-đạo ở Nam Việt-nam. Xuống tỉnh An-Xuyên, miền cực Nam của vùng châu-thổ sông Cửu-long, cha Hoá đoàn-ngũ hoá con chiên thành lực-lượng tự-vệ. Với sự trợ giúp của toán LLÐB Ðài-loan, chẳng bao lâu họ quét sạch du-kích Việt-cộng ra khỏi địa-phương.

Trong khi cha Hoá đặt trọng-tâm vào An-Xuyên, ông vẫn luôn luôn cổ-võ cho vấn-đề xâm nhập, khuấy-rối miền Bắc Việt-nam. Cho tới lúc cuối ông vẫn duy-trì liên-hệ chặt chẽ với Ð/tá Lê QuangTung và Ð/úy Ngô Thế Linh của Sở liên-lạc phủ tổng-thống, ông giới-thiệu với họ những người có thể huấn-luyện để trở thành điệp-viên, tuyển-lựa trong đám con chiên thuộc cộng-đồng công-giáo di-cư của ông. Qua tay cha Hoá, CIA thâu nhận một viên Ð/úy đứng tuổi của quân-lực Nam Việt-nam tên là Lương-Hàng, gốc người Nùng làm sĩ-quan điệp-vụ.

Chính-quyền ông Diệm bị lật đổ vaò tháng 11/1963. Cha Hoá cũng bị lu mờ từ đó. Liên-lạc giữa Sàigòn và Ðài-bắc vẫn tiến-triển. Máy bay C-123 với phi-hành đoàn Ðài-loan đã thả hàng loạt toán xâm nhập vào miền Bắc Việt-nam. Từ những hợp-tác này, Tướng Nguyễn-văn-Thiệu của quân-lực Nam Việt-nam qua Ðài-loan tháng 6/1964 để bàn-bạc thêm về hợp-tác quân-sự. Vài tháng sau, khoảng tháng 10 MACV và Nam Việt-nam đồng-ý cho thiết-lập một phái-bộ Trung-hoa dân-quốc gồm 15 người, cố vấn cho Nam Việt-nam về chiến-tranh tâm-lý và chính-trị.

Sàigòn cần nhiều sự giúp đỡ hơn là chỉ một nhóm nhỏ cố-vấn. Tháng 8/1965, Thủ-tướng Nguyễn-cao-Kỳ đi Ðài-loan và trở về với nhiều cam-kết được giúp đỡ về kỹ-thuật và vật-liệu. Thêm vào đó Trung-hoa dân-quốc còn gián-tiếp đề-nghị là họ sẵn sàng đáp-ứng cho thêm nếu cần, các trợ giúp khác. Lời hứa-hẹn lửng-lơ này trở thành rõ ràng khi cuối tháng đó Tr/tá Ngô-thế-Linh lúc đó là chỉ-huy trưởng của nhóm biệt-hải qua Ðài-loan bàn về vấn-đề gởi điệp-viên từ miền Nam xâm nhập vào Bắc-Việt và Tầu-cộng. Miền Nam cung-cấp điệp-viên và gởi sang huấn-luyện tại Ðài-loan. Ðài-bắc cũng hứa sẽ cung-cấp giấy tờ giả-mạo và tầu siêu-tốc để gởi điệp-viên xâm nhập duyên-hải miền Bắc. Một số khác sẽ xâm nhập từ Cao Miên và Lào bằng phương-tiện máy bay thương-mại.

Ngay khi những lời hứa-hẹn này được tuyên-bố, kế-hoạch dự-định đã được phái quốc-gia cực-đoan ở Ðài-loan ủng-hộ. Ðến tháng 9, không chờ ý-kiến từ Nam Việt-nam, 4 điệp-viên thẩm-thấu vào Hoa-lục bằng cách du-hành hợp-pháp qua ngã Nam-vang và Vạn-tượng. Cho mãi đến đầu năm sau đó, sự hợp-tác bí-mật với Ðài-loan mới được khơi lại và lần này, SOG đóng vai chính-yếu.

SOG ve-vãn với Ðài-loan là một điều dễ hiểu, vì mối giao-hảo giữa Bắc Việt-nam và Tầu-cộng lúc đó. Trong thập-niên 60, hai quốc-gia này hiềm khích lẫn nhau một cách tệ-hại, dẫn đến chỉ trích lẫn nhau một cách hạ-cấp. Cuối cùng của màn võ mồm này là Việt-cộng nhìn Trung-cộng với con mắt nghi-ngờ. Hiềm-khích càng tăng lên khi liên-bang Sôviết đột-ngột tăng viện-trợ quân-sự cho Hà-nội trong năm 1965 làm cho Bắc-kinh càng lên ruột hơn. Trong khi Bắc-kinh ngoài mặt cố gắng giữ sự đoàn-kết với Bắc Việt-nam, nhiều nhà quan-sát ngoại-giao đoan chắc rằng, bề trong mâu-thuẫn giữa hai quốc-gia rất là căng-thẳng.

Tình-trạng căng-thẳng này giúp cho Hoa-thịnh-Ðốn và Ðài-bắc cơ-hội thuận-tiện để thiết-lập một cuộc chiến-tranh ngoại lệ. Tháng 5/1965 bộ-trưởng quốc-phòng Ðài-loan, Tưởng-kinh-Quốc con của Tưởng Thống Chế đề nghị thả biệt-kích xuống Tây Nam Trung-hoa lục-địa để phá đường tiếp-liệu của Hà-nội, 4 tháng sau Hoa-thịnh-Ðốn rỉ tai Ðài-bắc cho thả dù điệp-viên Trung-hoa quốc-gia xuống gần biên-giới Bắc Việt-nam để nghe lén mạng lưới truyền-tin của Bắc-kinh. Quả là một hành-động cương-quyết, chính-sách Hoa-kỳ đã thay đổi. Từ năm 1956, Hoa-thịnh-Ðốn đã nhiều lần tự-chế, né tránh những cuộc chạm trán với lục-địa nhưng 9 năm sau họ đã khởi-động, khuyến-khích đám quốc-gia cực-đoan khuấy-rối Hoa-lục. Tưởng-kinh-Quốc không thể bỏ mất cơ-hội may mắn này. Mỗi bên có nguyên-do riêng cho hành-động này: Hoa-kỳ cần tin-tức tình-báo, trong khi Ðài-loan thấy có cơ-hội để gởi điệp-viên vào tỉnh Vân-nam. Nhiệt-tình của Ðài-bắc làm cho Hoa-thịnh-Ðốn nghi-ngại, e rằng Ðài-bắc quá hăng-hái và chuyển căn-bản từ những toán thám-báo thành một cuộc chiến thực-thụ. Ðể tránh chuyện này xẩy ra, cho SOG dính-líu vào để cầm chân Ðài-bắc.

Ðược chuyển từ kế-hoạch khởi đầu là các toán người Trung-hoa quốc-gia, nay hợp-tác với SOG, kế-hoạch hành-quân thay đổi. Ðáng lẽ gởi điệp-viên Ðài-loan vào thẳng Vân-nam, SOG đề-nghị thả những toán nằm dài hạn xuống tỉnh Lào-cai, nằm dọc theo biên-giới Việt-nam và Trung-cộng. Những toán này sẽ được xử-dụng để quan-sát lưu-lượng giao-thông: đường bộ, đường hoả-xa và tầu bè di-chuyển xuôi hướng Ðông-nam từ Trung-cộng xuống Hà-nội. Không có gì đáng ngạc-nhiên khi đề-nghị của SOG về mục-tiêu Lào-cai làm cho Trung-hoa quốc-gia rất phấn-khởi. Trong khi bàn soạn, Ðài-bắc đồng-ý chuyển bãi đáp ra phía Ðông-bắc thuộc tỉnh Hà-giang, khu-vực đồi núi và thưa dân. Hà-giang không có nhiều mục-tiêu chiến-lược như Lào-cai, nhưng Hà-giang có một biên-giới dài và hoang-vu ăn sâu vào đất Trung-cộng. Theo như chương-trình sắp xếp lại; một toán Việt-nam sẽ nhẩy xuống Hà-giang và làm an-ninh bãi đáp trước cả tháng, sau đó một toán Trung-hoa quốc-gia sẽ nhẩy xuống hiệp-đoàn với họ. Và rồi họ sẽ cùng tiến về phương Bắc vào lãnh-thổ Trung-cộng.

Kế-hoạch quả là quá lạc-quan. Thành-quả các toán dài hạn của SOG thật là lèm nhèm, của Ðài-loan lại còn tệ hơn. Bỏ ngoài tai những thất-bại thảm-thương trước đó, kế-hoạch được thi-hành. Ðài-bắc rất nóng nẩy chờ thả biệt-kích vào lục-địa, nhất là lại được ô dù của Mỹ che chở. Trong khi SOG chưa có thể chứng-minh được lợi-ích thực-tiễn của cuộc hành-quân, bộ-trưởng quốc-phòng được thông-báo về kế-hoạch vào tháng 10/1966 và CINPAC chấp-thuận tháng 5 sau đó. Tại Long-thành, phần người Việt một nửa toán nhẩy vào Hà-giang bắt đầu thành-lập tháng 8/1966. Sĩ-quan điệp-vụ là thiếu-tá Lương-Hàng, viên sĩ-quan Nùng mà cha Hoá tiến-cử trước đó, được gọi bí-danh là Mathieu. Hàng là người đáp-ứng đủ điều-kiện cho điệp-vụ hợp-tác với Ðài-bắc vì ông có dòng máu Trung-hoa và nói được tiếng Tầu.

Dưới quyền điều-khiển của Mathieu, một lớp điệp-viên 30 người, sàng-xẩy được 12 BKQ, tiến-hành tập-luyện tại Long-thành. Ðặt tên là toán Red-Dragon, tất cả là người Việt miền Bắc. Ðược chọn làm toán trưởng là Nguyễn-thái-Kiên (*) một quân nhân kinh-nghiệm, đã trải qua nhiều cuộc giao-chiến với Việt-minh trong chiến-dịch biên-giới, dọc theo lân-quốc Trung-hoa và trận chiến Ðiện-biên-phủ. Vào Nam sau 1954, ông gia-nhập lực-lượng nhẩy dù của chính-phủ quốc-gia và thuộc nhóm thiếu-úy trẻ tình-nguyện qua SOG cuối năm 1965,và là toán trưởng người Việt trong các cuộc hành-quân Shinning-Brass hoạt-động vượt-biên qua Lào. Từ đàu năm 1967, toán Red-Dragon được huấn-luyện tại Long-thành. Các toán viên được thực-tập phá-hoại và xử-dụng tất cả các loại vũ-khí, kể cả loại hoả-tiễn 3,5 inch. Họ cũng được học gấp rút tiếng Tầu.

Ngày 24/2, toán Red-Dragon được hội-nhập với nửa phần kia là các quân-nhân LLÐB của Trung-hoa quốc-gia. Ðể khỏi bị lộ tông-tích, nhóm 13 người Ðài-loan này được đặt tên bằng tiếng Việt.
Trong 6 tháng, toán Red-Dragon hỗn-hợp này sát cánh thực-tập với nhau tại Long-thành. Ngày mãn khoá, vào tháng Tám, họ được thả xuống một nơi gần Ðà-lạt, hành-quân thực-thụ để thực-tế chiến-trường. Chạm địch, hạ-sát 2 du-kích, bắt sống 2 tù-binh và tịch-thu 5 súng trường. Vào giữa tháng Chín, một nửa toán Red-Dragon của người Việt chỉ còn lại có tám người, được trải qua những trắc-nghiệm cuối cùng. Toán trưởng Kiên được vinh thăng Ð/úy, viên toán phó Phạm-xuân-Kỳ lên một cấp là Th/sĩ. Mathieu cùng Ð/úy Frederic Caristo của SOG trao đổi với họ những lời dặn dò cuối cùng. Kiên giao hẹn sẽ liên-lạc với Sở trong vòng 3 ngày sau khi tới mục-tiêu, nếu không kể như đã rơi vào tay địch. Nhiệm-vụ của họ là chờ cho đến khi phần nửa toán còn lại của Trung-hoa quốc-gia nhẩy xuống, hội-nhập với họ và tiến vào Trung-hoa lục-địa. Ngày 21/9, cả 8 BKQ mặc đồ bảo-hộ nhẩy dù và leo lên một chiếc MC-130. Hầu hết đồ tiếp-liệu của họ để trong một kiện hàng lớn, trong có máy phát tín-hiệu và mỗi điệp-viên đều có trang-bị máy dò tìm, để khi xuống đất trong đêm tối, họ tìm lại tiếp-liệu và hội lại với nhau không mấy khó khăn.

Cất cánh vào ban đêm, máy bay ghé qua Nha-trang, Từ đó bay vòng ra vịnh Bắc-Việt theo hình vòng cung, ngược chiều kim đồng hồ. Với những phi-cụ tối-tân, phi-hành đoàn cho phi-cơ bay thật thấp về hướng Tây, dọc theo dẫy núi non hiểm-trở giữa Bắc Việt-nam và Trung-cộng. Ðúng 2 giờ sáng trên không-phận tỉnh Hà-giang, bửng sau máy bay hạ xuống. Toán được chia làm hai như đã hoạch-định trước; đồ tiếp-liệu và toán trưởng sẽ nhẩy xuống trước, tiếp theo đó là chuyên-viên truyền-tin và các toán viên. Có một điều không dự-định trước là gần hết nhân-viên của toán Red-Dragon bị say máy bay. Không biết là tại vì căng thẳng thần-kinh hoặc vì chuyến bay bị nhồi sóc quá độ, các BKQ trừ một ngưòi Việt và hai chuyên-viên thả dù người Mỹ, số còn lại thay phiên nhau nôn mửa trên sàn tầu.
Khi ngọn đèn xanh bật lên, toán Red-Dragon đều đã rệu-rã. Ðể làm gương, Kiên và kiện hàng biến mất trong không-gian. Phàn-nàn chuyến bay làm cho quá mệt mỏi, chuyên-viên phá-hoại Trịnh-quốc-Anh khuỵu xuống và không chịu nhẩy. Thấy vậy, toán viên thứ hai cũng từ-chối và rồi toán viên thứ ba. Một phút đã trôi qua và chuyên-viên thả dù phải khuyến-khích, xô đẩy toán Red-Dragon ra cửa sau phi-cơ.Trong khi đó Kiên và kiện hàng tiếp-liệu đã rơi xuống một khoảng cách khá xa. Cuối cùng 6 toán viên khác cũng nhẩy. Không có cách nào làm cho Anh rời máy bay được; anh ta ở lại trên chiếc MC-130E bay trở lại Nam Việt-nam (Trịnh-quốc-Anh sau này bị bắn chết bởi một toán viên khác, khi gây-gỗ với nhau về việc chia phiên đi lấy nước, trong một cuộc hành-quân cũng ở Bắc Việt-nam ).

Rời khỏi máy bay cuối cùng là Nguyễn-hữu-Tấn, một người công-giáo quê ở Thái-bình, nhân-viên cứu thương của toán, Tấn nhìn thấy những cánh dù của đồng-đội nở hoa dưới ánh trăng.Anh cũng nghe tiếng xe tải và ánh đèn từ một trạm biên-phòng, anh biết chắc rằng họ sẽ bị lộ khi tới được mặt đất.

Ðáp xuống một bụi tre mọc giữa lưng đồi, Tấn tháo gỡ đai dù. Các BKQ được lịnh thâu-hồi dù và phá-hủy với một dung-dịch acid đặc-biệt để phi-tang. Nhưng dù của Tấn mắc cao trên ngọn tre, anh bỏ mặc đó và di-chuyển khỏi bãi đáp. Bởi vì có sự chậm trễ do dằng co khi nẫy trên máy bay, giờ đây anh đáp xuống hướng Tây-nam và cách mục-tiêu là biên-giới Tầu gần 50 cây số. Mặc dầu đây là khu thưa dân cư, cũng có một con lộ đi qua và được canh gác bằng một lực-lượng phòng-vệ đông đảo của Bắc-Việt và một pháo-đội phòng-không của Trung-cộng. Tính thầm rằng kiện đồ tiếp-liệu phải rơi xuống thung-lũng phía dưới, Tấn bật máy dò tín-hiệu, vì dùng dằng khi nhẩy nên khoảng cách hai nơi đã quá xa, quá tầm hoạt-động của máy. Với tiểu-liên Thụy-điển trên tay ( Sweedish-K, bắn đạn 9mm ), Tấn mò xuống chân đồi vì nghĩ rằng đồng-đội đã đáp xuống đó. Chỉ trong ngày, anh gặp được chuyên-viên truyền-tin Lê-trung-Tín. Máy rà tín-hiệu của Tín cũng không hoạt-động, họ không có cách nào để kiếm đồ tiếp-liệu gồm đồ ăn, quần áo và máy đánh morse GRC-109 để liên-lạc với Sàgòn qua trung-gian đài tiếp-vận BUGS ở Phi-luật-Tân. Máy phát tuyến cầm tay HT-1 cũng không hoạt-động hữu-hiệu trên miền núi non làm họ cũng không thể liên-lạc được với các toán viên khác.
Ròng rã hai ngày, hai BKQ đi ruồng trong rừng để kiếm đồng-đội. Ðơn-độc và đói, cuối cùng họ quyết-định tìm đường qua Lào. Chỉ một ngày sau, các toán tuần-tiễu Bắc-Việt tìm ra họ, Tấn và Tín bị bắt một cách dễ dàng.

Ba toán viên khác của toán Red-Dragon cũng chỉ may mắn hơn một chút. Rơi xuống thung-lũng, họ gặp lại nhau ngày hôm sau; ở gần kiện hàng hơn, máy dò tìm của họ hoạt-động,mò theo đó họ tiếp-tục đi về phương Bắc. Họ đi gần một tuần mà cũng không tìm ra đồ tiếp-liệu. Tới lúc đó Bắc Việt-nam đã huy-động lực-lượng càn quét khu-vực trung-du, chẳng bao lâu cả 3 BKQ bị bao vây và bắt giữ.

Vài ngày sau đó, hai người còn lại của toán Red-Dragon cũng bị bắt nốt. Bắc-Việt dùng nhân-viên truyền-tin bắt liên-lạc với BUGS. Trước khi ra đi, các BKQ đã hẹn là trong vòng 3 ngày sẽ gọi về. Giờ đây, sau gần 2 tuần họ mới liên-lạc, SOG không tin là họ được an-toàn. Mathieu lại tin rằng mọi chuyện đều xuông-sẻ và yêu-cầu tái tiếp-tế. Ngày 17/10 trong một phi-vụ oanh-tạc, một chiếc Phantom F-4C xé bầy bay tới Hà-giang và thả đồ tiếp-tế, ngụy trang trong vỏ bom napalm.

Không phải chỉ có SOG nghi-ngờ, Ðài-loan cũng e-dè và giữ các BKQ của họ ở lại Long-thành. Trước khi quyết-định gởi BKQ của họ ra Bắc, họ yêu-cầu gởi điệp-viên xuống Hà-giang để kiểm-chứng tình-trạng của toán Red-Dragon. Toán mới, Red-Dragon Alpha chỉ có hai nhân sự. Một trong 2 người đó là Trịnh-quốc-Anh, người đã từ-chối nhẩy vào mục-tiêu lần trước.

Không phải là một toán tiếp-ứng bình thường, Red-Dragon Alpha sẽ nhẩy vào, ở lại mục-tiêu 2 tuần-lễ để xác-định mức an-toàn của toán Red-Dragon, rồi sẽ được triệt-xuất bằng phương-cách Fulton- Skyhook system ( Vớt người bằng hệ-thống móc trang-bị trước mũi của C-130, và khi máy bay đã bình-phi, người được cứu lúc đó bay theo phía sau của máy bay sẽ được kéo vào trong phi-cơ theo lối cửa sau, phương-pháp này rất là nguy-hiểm, chỉ được xử-dụng khi đã vô-kế khả-thi).

Toán Red-Dragon Alpha được sắp-xếp để nhẩy vào mục-tiêu tháng giêng 1968. Tuy nhiên, sau những trao đổi truyền-tin, SOG đánh hơi được người của mình đã sa vào tay giặc nên bãi bỏ kế-hoạch dự-định và Ðài-bắc đã rút toán biệt-kích của họ về.

Lược-dịch Nguyễn-đức-Tuấn

Toán Red-Dragon
nguyên-tác : Spies & Commandos
Kenneth Conboy & Dale Andradé