Friday, October 8, 2021

Today we pause to remember one of SOGs legends, SFC Jerry M Shriver who went MIA on April 24, 1969.

Trong thời gian cuối năm 1968, đầu 1969, bộ chỉ huy Nam (CCS) thường xuyên cho những toán biệt kích 6 người xâm nhập vào khu vực Lưỡi Câu (Fish Hook), giữa biên giới VNCH và Cambodia. Các toán biệt kích SOG có nhiệm vụ theo dõi các hoạt động càng ngày càng gia tăng của quân đội Bắc Việt và VC trong khu vực.
        Đó là nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, ít có toán biệt kích nào xâm nhập, hoạt động quá ba ngày. Có toán chỉ mới vào được chừng 30 phút đã bị địch phát giác, tấn công. Một vấn đề khó khăn nữa, tìm được một bãi đáp trực thăng, không có người canh gác là cả một vấn đề. Gần như tất cả mọi bãi đáp đủ rộng cho trực thăng đáp đều đã bị địch quân để ý, cho người canh gác.
        Để làm thay đổi tình thế, ngăn chặn ảnh hưởng của địch trong khu vực (Lưỡi Câu), Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam (cơ quan MACV) soạn thảo một kế hoạch tấn công cơ quan đầu não, Trung Ương Cục (R) Miền Nam Việt Nam (COSVN). Bộ chỉ huy (R) của địch (tin tình báo) với căn cứ, hầm hố, điạ đạo nằm trong khu vực Lưỡi Câu, sâu trong đất Miên khoảng một dặm, cách đồn điền cao su Minot khoảng 14 dặm về hướng đông nam, cách căn cứ hành quân tiền phương Quản Lợi (của đơn vị SOG) 20 dặm và cách Tây Ninh 28 dặm về hướng đông bắc.
        Sau khi nhận lệnh hành quân đưa đại đội xung kích Hatchet Force đi hành quân trên đất Miên từ mấy ngày trước, trung tá Earl Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột báo lên Hành Quân 35 (Oplan 35) và bộ chỉ huy đơn vị SOG trong Saigon rằng theo ý kiến của ông ta, kế hoạch tấn công Trung Ương Cục Miền Nam trên đất Miên khó thành công. Theo kế hoạch, đơn vị Hatchet Force sẽ tìm cách bắt sống tù binh để lấy tin tức, và báo cáo kết qủa trận thả bom của phi cơ B-52 trên bộ chỉ huy Trung Ương Cục. Trung tá Trabue hiểu rất rõ nhiệm vụ khó khăn, nếu chỉ đưa một trung đội (Hatchet Force) thì nên hủy bỏ kế hoạch tấn công, còn về chuyện phi cơ B-52 thả bom, địch quân cũng đã đề phòng trước.
        Độ lớn của đơn vị Hatchet Force cũng phải giới hạn đủ cho 9 trực thăng chở quân thuộc phi đoàn 195 Trực Thăng Tấn Công của Lục Quân Hoa Kỳ. Các trực thăng chỉ mất mười phút bay đoạn đường 20 dặm từ phi trường Quản Lợi đến mục tiêu. Chín chiếc trực thăng gồm có 1 trực thăng chỉ huy (C&C), 4 trực thăng võ trang yểm trợ, chỉ còn lại bốn chiếc để chở quân... Do đó bộ chỉ huy Nam (CCS) chỉ có thể đưa một trung đội Hatchet Force đi tấn công.
        Ngày 24 tháng Tư năm 1969, đại úy William O’Rourke Jr., đại đội trưởng đại đội Hatchet Force sẽ chỉ huy đơn vị tấn công, phụ tá là đại úy Paul D. Cahill, trung úy Gregory M. Harrigan, và trung úy Walter L. Marcantel, sau đó là trung sĩ nhất Jerry M. “Mad Dog” Schriver. Trung sĩ Earnest C. Jamison, y tá đơn vị, và các binh sĩ người Thượng đơn vị Hatchet Force sẽ được trực thăng đưa vào bãi đáp trực thăng, qua khỏi biên giới Việt-Miên khoảng một dặm rưỡi.
        Tất cả trực thăng trong hợp đoàn tham dự cuộc đổ quân, theo lệnh của chiếc trực thăng chỉ huy. Một chiếc phi cơ thám thính FAC bao vùng sẽ điều động các phi tuần phi cơ chiến thuật lên oanh kích nếu cần thiết.
        Trước khi hợp đoàn trực thăng cất cánh vào lúc rạng đông, trung sĩ nhất Shriver leo lên, ngồi trên chiếc trực thăng dẫn đầu. Các phi cơ chiến lược B-52 đang thả bom trên khu vực tình nghi có bộ chỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam. Khi đoàn trực thăng cất cánh, chiếc trực thăng chở đại úy O’Rourke cùng ban tham mưu của ông ta bị trở ngại kỹ thuật nên phải quay lại, do đó người chỉ huy trận tấn công là đại úy Cahill.
        Theo dự trù, đoàn trực thăng sẽ đến bãi đáp khi lớp bụi sau trận thả bom lắng xuống, nhưng hợp đoàn trực thăng bay lạc, không tìm ra bãi đáp. Phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ bay lòng vòng (để bị lộ) mới tìm ra được ba hố bom để đáp xuống, cho đơn vị (trung đội) Hatchet Force tiến vào khu vực hành quân. Sau đó hợp đoàn trực thăng bay về phi trường Quản Lợi, cũng là căn cứ hành quân tiền phương của đơn vị SOG (CCS) nơi phiá nam.
        Khi ra khỏi trực thăng, các biệt kích quân nhẩy xuống một trong hai hố bom lớn, bố trí, chỉ cách một ổ súng đại liên của địch khoảng 30, 50 thước. Các trực thăng vừa bốc lên cao, ra khỏi bãi đáp khoảng 20 thước, tiếng súng đại liên, súng AK từ các công sự phòng thủ, giao thông hào của địch nổ dòn, bắn gục những ai còn trong bãi đáp, chưa kịp nhẩy xuống hố bom tránh đạn.
        Từ trong hố bom, trung sĩ nhất Jerry M. “Mad Dog, Chó Điên” Shriver gọi máy liên lạc, báo cáo, khẩu đại liên của địch đặt phiá bên trái đàn áp không cho toán quân dưới quyền anh ta ngóc đầu lên được. Anh ta yêu cầu, phần còn lại của trung đội Hatchet Force tác xạ vào khẩu đại liên để làm giảm bớt hỏa lực của địch. Đại úy Cahill, trung úy Marcantel, và trung sĩ Earnest C. Jamison trú trong hố bom ở giữa cũng nằm chịu trận, không cựa quậy được.
        Chiếc trực thăng chỉ huy báo cho đơn vị Hatchet Force biết sẽ điều động không quân chiến thuật (khu trục cơ hoặc phản lực) lên oanh kích, yểm trợ. Trong khi đó các trực thăng võ trang bay vào bắn hỏa tiễn, đại liên minigun sáu nòng xuống vị trí của địch, để đỡ cho trung đội Hatchet Force. Khi một chiếc trực thăng võ trang chúi xuống, bắn đại liên, người xạ thủ đại liên báo cáo, ổ súng đại liên của địch đặt trong pháo đài xây bằng bê tông, đạn trúng không ăn thua.
        Trên chiếc trực thăng chỉ huy có thiếu tá Benjamin T. Kapp Jr., một cấp chỉ huy trên căn cứ hành quân tiền phương, quan sát trận điạ và báo cáo về cho trung tá Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột. Từ trên cao, thiếu tá Kapp nhìn rõ vị trí trung đội khai thác (xung kích) Hatchet Force, bị hai khẩu đại liên của địch đặt trong pháo đài kiên cố chế ngự.
        Khoảng 10, 15 phút sau, đại úy Cahill nghe Shriver báo cáo, sẽ cùng với năm biệt kích Thượng sẽ chạy vào bià rừng phiá tây bãi đáp trực thăng, rồi từ đó tấn công khẩu đại liên. Nhìn qua hố bom bên kia, đại úy Cahill trông thấy sáu người nhẩy lên khỏi hố bom, chạy thật nhanh vào hàng cây nơi bìa rừng. Trong lúc chạy, Jerry Shriver vẫn liên lạc với phi cơ quan sát FAC.
        Ngồi trong hố bom quan sát, đại úy Cahill trông thấy Shriver chạy vừa đến hàng cây thì bị trúng mấy viên đạn, gục xuống, và cũng không nghe được những lời đối thoại giữa Shriver và phi công FAC. Viên phi công FAC cố gắng liên lạc, gọi Shriver thêm mấy lần, nhưng không có tiếng trả lời. Đại úy Cahill tin rằng, Shriver đã trúng đạn, chết dưới hàng cây.
        Tiếng súng vẫn nổ đều khắp nơi, trung sĩ y tá Jamison bò ra khỏi hố bom để lôi một biệt kích Thượng xuống hố bom, anh ta trúng đạn chết ngay cạnh binh sĩ Thượng. Ít phút sau, đại úy Cahill đưa đầu lên khỏi hố bom để quan sát chiến trường, một viên đạn AK trúng vào miệng ông ta, trổ ngược lên con mắt bên phải. Đau đớn vì vết thương, ông ta không nhìn được gần ba mươi phút, và hư luôn con mắt bên phải.
        Trong khi trung đội Hatchet Force đang lâm nguy, các toán biệt kích thuộc bộ chỉ huy Nam (CCS) đang xâm nhập hoạt động dò thám, được lệnh tìm vị trí an toàn, nằm im, để tất cả trực thăng võ trang bay đi cấp cứu đơn vị Hatchet Force.
        Trên bầu trời, bộ chỉ huy Trung Ương Cục, số trực thăng võ trang đã tăng lên 8 chiếc. Trung úy Harrigan yêu cầu các trực thăng xử dụng hỏa lực của hỏa tiễn và đại liên minigun sáu nòng đàn áp các khẩu đại liên của địch. Ông ta điều chỉnh hỏa lực trực thăng bắn phá thêm 45 phút rồi trúng đạn bị thương nặng. Trước đó Greg Harrigan báo cáo hơn nửa trung đội Hatchet Force đã chết hoặc bị thương. Sau đó trung úy Harrigan trúng đạn tử trận.
        Một toán biệt kích gồm có hai quân nhân Hoa Kỳ, bốn biệt kích Thượng được đưa vào một hố bom thứ ba cách bãi đáp khoảng 80 thước, tăng cường cho trung đội Hatchet Force. Nhiệm vụ của toán biệt kích sẽ tấn công theo sườn hướng tây phòng tuyến của địch, tiến sát đến pháo đài, ném lựu đạn vào lỗ châu mai phá khẩu đại liên. Không ngờ toán biệt kích cũng bị hỏa lực của địch đàn áp, kẹt trong hố bom, không tiến lên được.
        Tám trực thăng Huey võ trang luân phiên nhau bắn yểm trợ và bay về phi trường Quản Lợi lấy nhiên liệu, hỏa tiễn, đạn dược. Trung tá Trabue chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) xin thêm hai trực thăng Cobra thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 20 Không Pháo (Arial Artillery) lên tham chiến, cũng không xong vì pháo đài của địch được xây bằng bê tông.
        Trung tá Trabue yêu cầu phi công FAC xin các phi tuần không quân chiến thuật lên thả bom, nhưng được trả lời, không có sẵn. Ông ta liên lạc về Hành Quân 35 (Oplan 35) của đơn vị SOG, và khoảng 45 phút sau, có một phi tuần phản lực lên oanh kích. Sau mấy vòng phi cơ oanh kích, thả bom, trung đội Hatchet Force báo cáo, hỏa lực của địch nơi bãi đáp vẫn còn mạnh, trực thăng chưa thể vào được để di tản trung đội.
        Trung tá Trabue quyết định xử dụng bom Napalm để cứu đơn vị Hatchet Force. Ông ta yêu cầu thả bom Napalm dọc theo phòng tuyến xây bằng bê tông của địch. Sau hai qủa bom Napalm, trung đội Hatchet Force báo cáo, hỏa lực của địch giảm đi nhiều và trực thăng có thể vào di tản.
        Bốn trực thăng Huey đáp xuống di tản trung đội Hatchet Force. Khi trực thăng vừa bốc lên, phi hành đoàn một trong bốn chiếc trực thăng nhìn xuống hố bom ở giữa bãi đáp, trông thấy có người chuyển động, vội báo cho phi công quay lại. Trung úy Daniel Hall nhẩy ra khỏi trực thăng lôi lên được quân nhân LLĐB/HK mang máy truyền tin bị thương nặng và xác của trung úy Harrigan.
        Trong số 18 biệt kích quân thộc trung đội Hatchet Force và 6 người trong toán biệt kích vào sau. Toán biệt kích về đầy đủ, và 10 biệt kích quân trong trung đội Hatchet Force, tất cả đều bị thương. Quân nhân y tá Ernest Jamison được báo cáo tử trận, không lấy được xác. Shriver cùng với năm biệt kích Thượng được ghi nhận “Mất Tích” (MIA).
        Trung sĩ nhất Jerry Michael “Mad Dog” Shriver rất tốt với các binh sĩ Thượng của anh ta. Jerry nói được tiếng Rhade, lúc nào cũng để ý nếp sống của người Thượng, xử dụng tiền lương của mình mua thực phẩm, quần áo giúp đỡ gia đình binh sĩ trong trung đội. Trước khi “mất tích” Jerry chỉ còn 3 tuần lễ phục vụ trong ba chuyến (tour) tình nguyện qua Việt Nam chiến đấu.

Dallas, TX.
vđh
 
This is a write-up on Jerry M. Shriver and others killed in action in either Laos or Cambodia.
"Mad Dog," as he was aptly called in the SOG (Special Forces) group at FOB#2 Kontum, VN. It seemed to me, that every time one of these teams got into a perdicamint we were on call.
I grew rather close to "Mad Dog" during my tour with the 170th AHC Bikinis in 1967.
He was a peculiar person.
My children have heard many tales of my crew inserting and extracting Jerry's team of Special Forces.
Upon my return to VN in 1969, I heard that Jerry was dead and the NVA had decapitated him to show proof that he would not bother them anymore.
 
Today we pause to remember one of SOGs legends, SFC Jerry M Shriver who went MIA on April 24, 1969. Jerry is credited with taking part in an extraordinary number of recon missions with SOG.

Born Jerry Michael Tate, he was a military brat. His biological father, Henry A Tate, Jr., was in the Air Corps and Air Force. His parents married in 1941 and his father served during WW II in Italy. After the war, the family spends time in Germany and Bermuda. By the time he was 12, Jerry had three younger siblings and his parents had split up. Soon afterwards his mom "Doll" marries another career Air Force man, Dale L Shriver. Jerry and his siblings all take the Shriver surname. Three more siblings were added to his family.

In Dec 1958 - 17 year old Jerry Shriver drops out of South Fork High School (Miranda, CA) to join the Army. He is listed as living in Weott, Humboldt County, California. His mom and step-father live in Sacramento.
After basic training at Fort Ord, Jerry receives infantry/11B training. He probably finished all of his initial training in early 1959. It’s unknown what he does for the next few years, but sometime prior to 1961 he attends jump school and then is assigned to Wildflecken, Germany as a member of Co A, 75th Infantry, serving on a Long Range Reconnaissance Patrol (LRRP) team.

Jerry’s years as a LRRP with 75th are told in a 3 page article in the Fall 2008 75th Ranger Regiment Association's newsletter. 'Tales of Digger' (Digger was Jerry's nickname) show that his eccentric and sometimes risk taking nature was well established before he stepped foot in Vietnam. On the flip side of the coin his passion for training and conditioning himself into a fierce fighting machine and his talent to put his skills to good use was recognized.

In 1965 Jerry was at Fort Bragg attending Special Forces training. His off base housemates were Ron Dahle & Roy Link. His rather bizarre and dangerous shenanigans continued at Fort Bragg, but he managed to arrive in Vietnam in 1966 wearing Staff Sergeant stripes and was soon promoted to Sergeant First Class.

On 8 October 1966 Jerry earns the first of his seven Bronze Stars w/V device and 19 days later he earns his first Silver Star while serving as an assistant team leader on a recon team.

Below is a list of the personal decorations he received:
For action on 08 Oct 1966 Bronze Star w/v
For action on 27 Oct 1966 Silver Star
For action on 02 May 1967 Bronze Star w/v
For action on 05 May 1967 Soldier's Medal
For action on 10 Aug 1967 ARCOM w/V
For action on 23 Sep 1967 Bronze Star w/v
For action on 23 Oct 1967 Bronze Star w/v
For action on 13 May 1968 Bronze Star w/v
For action on 04 Nov 1968 Bronze Star w/v
For wounds on 12 Mar 1969 Purple Heart
For action on 24 Apr 1969 Silver Star (awarded posthumously 2 Oct 1974)

By 1968 the 5th Special Forces Group executive officer, Lieutenant Colonel Charlie Norton, had been watching SOG recon casualties skyrocket and grew concerned about men like Mad Dog whose lives had become a continuous flirtation with death. Norton went to the 5th Group commander and urged, "Don't approve the goddamn extensions these guys are asking for. You approve it again, your chances of killing that guy are very, very good." But the group commander explained SOG needed experienced men for its high priority missions. "Bullshit," Norton snapped, "you're signing that guy's death warrant." Eventually 5th Group turned down a few extensions but only a very few; the most experienced recon men never had extensions denied. Never.

Unless you were one of Mad Dog's close friends, the image was perfect prowess -- but the truth was, Shriver confided to fellow SOG Green Beret Sammy Hernadez, he feared death and didn't think he'd live much longer. He'd beat bad odds too many times, and could feel a terrible payback looming.

It was said that by his third tour of duty Shriver had become troubled and anti-social. He had even started to drink heavily and was said to be having trouble sleeping. He slept with his M3A1 (Grease Gun) Suppressed Sub-machine Gun under his pillow. But most people who served with him acknowledged that he was also a brave, dedicated, and committed soldier, who would do anything to help his team.

"He wanted to quit," Medal of Honor winner Fred Zabitosky could see. "He really wanted to quit, Jerry did. I said, 'Why don't you just tell them I want off, I don't want to run anymore?' He said he would but he never did; just kept running."

"Mad Dog was wanting to get out of recon and didn't know how," said recon team leader Sonny Franks, though the half-measure came when Shriver left recon to join his teammate O’Rourke’s Reaction Company.
LTC Earl Trabue stated “I had taken Shriver out of Recon and put him in the Reaction Company commanded by O'Rourke based on advice from my Sergeant Major who told me Shriver was burnt out. I also refused Shriver's request for another extension. I personally told him that he needed a rest. I had a rule that at 10 days before DROS no one went on a mission. Shriver was two days short of the 10 days when the mission took take place.”

As his longtime friend Ron Dahle has said about Jerry, "Jerry had to die in Nam, there was no place in a civilized world for him. He was great sober (seldom) unfortunately he was a total alcoholic and totally crazy when drunk. Don't misinterpret what I am saying, I loved Jerry to death, but what was...was."

When Jerry boarded the helicopter at Quan Loi (a small SOG compound) on the morning of April 24, 1969 it was thought the COSVN (North Vietnamese Army Headquarters) raid would make a fitting final operation; Shriver could face his fear head-on, charge right into COSVN’s mysterious mouth and afterward at last call it quits.

The story of Jerry’s last mission by LTC Earl Trabue and others:
LTC Trabue: “I was Flying C&C and was there from the git-go. We had to fly around the area for about 30 minutes to find three dry bomb holes (indicating that they were fresh). We knew at the start that due to aircraft availability it would be a platoon sized mission. However, the reason that there were so many officers on it was that CPT Bill O'Rourke wanted an officer in each flight team. As I had assigned the mission to O'Rourke's company, it was his responsibility to select the men who would go in on the ground. He decided to go in and command the ground operations. His plan was to go in on the last ship to land in order that he might see how the teams were dispersing on the ground. There was an engine failure in his ship at take off. We all knew that the mission was stupid from the time we got the order. I personally contacted Col Johnson at Ops 35 (My immediate Supervisor at SOG) and told him that with the manpower we would have the Mission was not appropriate. We were supposed to capture a prisoner and conduct a bomb assessment. I was told that the B-52s bombs would stun all of the enemy so bad it would be a piece of cake. So much for rear echelon knowledge of the real world in the field. “
Shriver's platoon was air assaulted into Cambodia by four helicopters. Upon departing the helicopter, the team had begun moving toward its initial target point when it came under heavy volumes of enemy fire from several machine gun bunkers and entrenched enemy positions estimated to be at least a company-sized element.

Capt. Cahill and Sgt. Ernest C. Jamison, the platoon medical aidman, took cover in a bomb crater. Cahill continued radio contact with Shriver for four hours until his transmission was broken and Shriver was not heard from again.

LTC Trabue: “Shriver called from his hole over to Cahill and told him he planned to try to get into the trees and get behind the VC. Cahill, who was now the ground commander, told him not to go as the fire was too hot. Shiver went anyway with five ‘Yards. All were killed. Cahill observed Shiver getting hit and going down just short of the tree line. “

It was known that Shriver had been wounded 3 or 4 times. An enemy soldier was later seen picking up a weapon which appeared to be the same type carried by Shriver.

Jamison left the crater to retrieve one of the wounded Montagnards who had fallen in the charge. The medic reached the soldier, but was almost torn apart by concentrated machine gun fire. At that moment Cahill was wounded in the right eye, which resulted in his total blindness for the next 30 minutes. The platoon radioman, Y-Sum Nie, desperately radioed for immediate extraction.

Maj. Benjamin T. Kapp, Jr. was in the command helicopter and could see the platoon pinned down across the broken ground and rims of bomb craters. North Vietnamese machine guns were firing into the bodies in front of their positions and covering the open ground with grazing fire. The assistant platoon leader, 1Lt. Gregory M. Harrigan, reported within minutes that half the platoon was killed or wounded. Harrigan himself was killed 45 minutes later.

LTC Trabue: “The first time the C&C ship went back to the base for fuel gathered up a recon team and put them on the ground to try and infiltrate around to the rear of the enemy. The team claimed that they could not get out of the hole I had put them in as they were under fire. During the action, when it became apparent that the choppers did not have enough fire power to suppress the VC, I got a message relayed to Ops 35 telling them that if I did not get close air support we would lose every one on the ground. I got the support in the form of several sorties but their bombs were having no effect. After the war I found out from one of the gunners from the 195th, which was our Helicopter support, that the bunker complex we were fighting was made of Concrete. He saw them when they went in low to strafe the area. Finally I called for napalm and that stopped the fire from the VC long enough for us to evacuate the survivors and some of the dead. Jamison was left on the ground (he was dead) because the last pickup ship was receiving fire and had to get out of there.”

After seven hours of contact, three helicopters dashed in and pulled out 15 wounded troops. As the aircraft lifted off, several crewmen saw movement in a bomb crater. A fourth helicopter set down, and Lt. Daniel Hall twice raced over to the bomb crater. On the first trip he recovered the badly wounded radio operator, and on the second trip he dragged Harrigan's body back to the helicopter. The aircraft was being buffeted by shellfire and took off immediately afterwards. No further MACV-SOG insertions were made into the NVA stronghold.

A total of 24 men had been inserted; 17 were recovered, and of those 17, ten were wounded and one was dead (1LT Gregory M. Harrigan). Two Americans and five Montagnards were not recovered; one of the seven, medic SGT Ernest C. Jamison, was known dead, while the other six were listed as Missing in Action.

On the 12th of June 1970, a team from the US Grave Registration Unit arrived at the battle-site to search for seven soldiers who had gone missing during the battle, including Shriver. Although they did recover the bodies of SGT Jamison and one of the Montagnards, no trace of Jerry Shriver or his equipment was ever found.

According to the Task Force Omega site, a Radio Hanoi broadcast indicated that Shriver had been killed in the fighting. However, he was carried as MIA until 10 June 1974, when the Secretary of the Army approved a Presumptive Finding of Death. During this time he was promoted from E-7 to E-8. As of April 2019 his remains have not been repatriated.

There is a memorial marker for Master Sergeant Jerry M. Shriver in the Fort Lawton Federal Cemetery in Seattle, Washington (Plot 4-235, placed 08/22/1974).

He is on "The Memorial Wall " in Washington, D.C. P-26W/L41
He is also featured in January 1997 "Soldier Of Fortune"
He is in the following:
"SOG" by John L Plaster
"Code Name: Copperhead" by Sergeant Major Joe R. Garner
"The Last Medal of Honor" by Pete Billac
………………………………..
Seattle Daily Times, WA, Friday, August 23, 1974, page E11, col. 6
Sergeant honored posthumously

Master Sgt. Jerry Michael Shriver was honored posthumously yesterday at Fort Lawton, the first missing-in-action person from this area to be so honored.

Shriver was pronounced dead by the Army after being missing in Laos five years.

The sergeant's parents, Mr. and Mrs. Dale Shriver of Bellevue, attended the ceremony along with the sergeant's brothers and sisters, Colleen, 18, Bonnie, 17, Patrick, 20, Roger, 27 and John, 23.

Shriver's six posthumous awards include the Silver Star, the nation's third-highest military honor.

Lt. Col. Douglas Horne, special assistant to the chief of staff at Ft. Lewis, presented Mrs. Shriver with an American flag, a Special Forces green beret like Shriver once had worn and a plaque with the six medals attached.

A 21-gun salute honored the sergeant. Members of Company B, 75th Rangers, 9th Infantry Division, Fort Lewis, served as the honor guard.

Tuesday, October 5, 2021

NT Võ Đại Tôn - SYDNEY 01.10.21 TÂM SỰ RIÊNG VÀ LỜI CHÂN THÀNH CẢM TẠ...

Trưa ngày 20.9., tôi bị té ngã từ ghế ngồi xuống nền nhà, bất tỉnh sau khi bị chóng mặt, mấy phút sau mới tỉnh lại. Đến chiều thì lại bị té thêm một lần nữa, lần này bất tỉnh rất lâu, phải kêu xe cứu thương đến cấp cứu và chuyển vào bệnh viện ngay. Bác sĩ cho thở ống oxy suốt mấy tiếng đồng hồ nhưng vẫn không thở được. Đến khuya thì bất tỉnh luôn, các bác sĩ túc trực cho tiêm thêm máu vào tim phổi, và gọi thêm các bác sĩ chuyên khoa từ các bệnh viện khác đến phụ giúp, đến gần sáng mới tỉnh lại. Ai cũng cho đây là trường hợp hi hữu, nghĩ là đã tắt thở luôn. Tôi phải nằm điều trị tại bệnh viện suốt hơn 10 ngày đêm, tiêm thêm đủ loại thuốc và bồi thêm máu vào cơ thể vì máu trong người tôi chỉ còn dưới 50%, và các bộ phận nội tạng đều bị ứ máu đen, lở loét, từ tim phổi, gan và bao tử, nhiếp hộ tuyến. Ngày hôm qua, 30.9., được cho về nhà để uống thuốc đủ loại tiếp và đến ngày 20.10 sẽ vào lại bệnh viện tái khám, nếu cần thì phải giải phẫu bao tử để cắt bỏ chỗ bị lở loét. Hiện tại thì đang dưỡng bệnh tại nhà, không hoạt động gì được. Tôi vẫn còn đang mệt, phải nằm nghỉ. Mặt mày và tay chân bị sưng phù, biến dạng. Tuổi già thêm nhiều bệnh bất ngờ, đành chấp nhận.
Xin cảm thông cho vì tôi không thể liên lạc được nhiều trong lúc này, và xin Cảm Tạ đã có lòng hỏi thăm sức khỏe của tôi trong thời gian qua.

Kính chúc bình an và xin Đa Tạ.

V.Đ.T. (Sydney)

Jocko Podcast 258 w S.Vietnamese SOG Warrior, Khanh Doan: Impossible Missions w/ John Stryker Meyer

Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan Trong Chiến-tranh Ngoại Lệ.

 Một trong những công-tác bí-mật của SOG bao gồm những hoạt-động chung với Trung-hoa quốc-gia. Sự phối-hợp này nằm trong ước mơ của Tưởng-giới-Thạch là lấy lại lục-địa Trung-hoa bị mất vào tay Mao-trạch-Ðông năm 1949 và trở thành Cộng-hoà nhân-dân Trung-hoa. Ngay từ lúc khởi đầu, người Mỹ đã làm Tưởng thống-chế tràn trề hy vọng. Chẳng hạn Hoa-thịnh-Ðốn giúp đỡ trang-bị cho các du-kích quân của các đảng phái quốc-gia ẩn-náu trong vùng rừng núi Miến-điện chống lại chính-quyền Hoa-lục. Bắt đầu từ năm 1951 và tới hai năm sau đó, mặt trận này đã mở được khoảng 7 trận đột-kích lẻ tẻ vào mạn sườn biên-giới phía Nam của Trung-cộng và tất cả đều không thành-công.

Sau khi chiến-dịch Miến-điện bị thất-bại, hậu bán thập-niên 50, Tưởng củng-cố lại lực-lượng quân-đội. Âm thầm, CIA yểm-trợ những chuyến xâm nhập của các toán biệt-hải thuộc Trung-hoa dân-quốc. Cho tới năm 1957 cường lực này được gia tăng bằng những cuộc đột-kích chớp nhoáng vào lục-địa bởi những toán biệt-kích. Một cuộc tấn-công dữ-dội nhất vào ngày 2/10 gồm 28 BKQ đột-kích cửa sông Pehling ; họ rút lui sau khi bị chống trả bằng pháo-binh và đại-liên của lực-lượng dân quân phòng-vệ.

Những cuộc đột-kích dọc miền duyên-hải lục-địa chỉ làm Trung-cộng hơi bực bội. Tưởng Giới Thạch quyết-định thọc sâu vào nội-địa. Những cuộc hành-quân này phải nghĩ tới việc thả dù những toán biệt-kích. Thi-hành dự-án này, vào tháng 9/1957 Tưởng thân-hành trình-bầy cho đại-sứ Hoa-kỳ ở Ðài-bắc kế-hoạch thành-lập một đơn-vị đặc-biệt xâm nhập vào lục-địa và khích-động dân chúng nổi lên lật đổ chế-độ CS. Phấn-khởi với đề-nghị này, tháng Hai sau đó Hoa-thịnh-Ðốn ra lịnh cho nhóm cố-vấn quân-sự tại Ðài-loan giúp đỡ Tưởng thành-lập một binh-đội lực-lượng đặc-biệt với quân số là 3.000 người.
Không thoả-mãn với chỉ một đội binh 3.000, Tưởng lập thêm 2 binh-đội LLÐB trong liền 2 năm sau đó. Và ông bắt đàu thả họ vào sâu trong lục-địa. Trong một điệp-vụ cuối tháng Tư năm 1960, CIA thả một toán năm người vào tỉnh Anhui. Theo như dự-tính dựa theo tin tình-báo của Ðài-loan toán sẽ đựợc tiếp đón bởi khoảng 500 người dân lục-địa có cảm-tình với Tưởng. Thực-tế, toán nhẩy ngay xuống một công-trường xây cất đập nước và bị rượt đuổi ngay tức-khắc. Liên-lạc vô-tuyến với Ðài-loan, họ xin tiếp-tế. Nhưng lúc này tình-hình chính-trị toàn cầu đang rất phức-tạp. Một chiếc U2 của CIA vừa mới bị bắn rơi bên liên-bang Sôviết, làm cho chính-quyền Eisenhower tạm thời chấm dứt những phi-vụ do-thám trên không-phận các nước thuộc khối CS. Tuyệt-vọng, viên trưởng toán trách than, rồi nổi giận trên tầng số vô-tuyến với viên chức CIA liên-hệ trước khi sa vào tay quân địch.

Những thất-bại này không làm cho Tưởng quan-ngại. Vào mùa hè năm 1961 ông có 4 binh-đội LLÐB với tổng số 12.000 biệt-kích nhẩy dù, một tập-hợp binh chủng đặc-biệt lớn nhất trong các quốc-gia Á-châu. Thêm vào đó, ông lập nên : Phong-trào Quốc-gia chống Cộng cứu quốc với 5.500 tay súng gồm toàn những người di-cư từ lục-địa, đội quân này sẽ dùng làm lực-lượng chính để tấn-công và lật đổ chính-quyền CS Hoa-lục.

Cho dù được tăng số lượng, trận chiến bí-mật của Trung-hoa dân-quốc gặt hái kết-quả rất khiêm-nhường qua những năm đầu của thập-niên 1960. Thường thường, các toán bị bắt ngay sau khi nhẩy dù xuống tới đất. Nhiều lần hệ-thống phòng-không năng-động của Trung-cộng đã bắn rớt máy bay xâm nhập trước khi đến được địa-điểm thả toán: ít nhất 5 máy bay RB-69, loại máy bay nòng cốt dùng để thả toán bị bắn rơi trong năm 1964.

Không-phận Trung-cộng càng ngày càng trở nên nguy-hiểm. Biệt-kích quân của Tưởng quay qua miền biển. Cuộc hành-quân lớn nhất của họ vào mùa hè 1963 khi 26 BKQ của Phong-trào Quốc-gia chống Cộng cứu quốc xử-dụng 2 tầu đổ bộ tiến vào hải-phận Bắc-Việt. Ngáy 23/7 hai tầu này vào tới Bạch-long-vĩ, một đảo nhỏ không dân cư nằm giữa Hải-phòng và đảo Hải-nam. Năm ngày sau, họ đi thẳng lên hướng Bắc, dừng lại ở ven biển Quảng-ninh, từ đó các BKQ chuyển lên các ghe đổ bộ và tiến vào bờ. Họ dự-định xâm nhập dọc theo biên-giới Bắc Việt-nam và Trung-cộng rồi đi sâu vào nội-địa và thiết-lập một nhóm du-kích chống cộng.

Các BKQ chỉ vừa đặt chân lên bãi cát là bị lực-lượng biên-phòng của Bắc-Việt bao vây. Trong cuộc chạm súng, 7 tử trận, 2 tự sát và 17 BKQ bị bắt làm tù-binh.

Ðài-loan không biết là 2 tuần trước đó, Nam Việt-nam đã cho xâm nhập toán biệt-hải tên Dragon cũng vào nơi đó của tỉnh Quảng-ninh, do đó nơi này đang bị canh chừng nghiêm-ngặt và toán BKQ của Trung-hoa quốc-gia đã rơi ngay vào mũi súng chờ sẵn của địch-quân.

Cuộc hành-quân này có vẻ như là thiếu sự hợp-tác chặt chẽ giữa Ðài-bắc và Sàigòn, nhưng thật ra không phải vậy. Thật sự, liên-lạc quân-sự giữa hai quốc-gia đã có từ tháng 5/1960, khi Tưởng gởi 3 sĩ-quan liên-lạc tới Sàigòn để liên-hệ công-tác xâm nhập. Ba tháng sau đó, một toán người nhái của Nam Việt-nam đã qua Ðài-loan để được xuyên-huấn. Tháng Hai sau đó, Ngô-đình-Cẩn người em đầy quyền-lực của TT Diệm thăm viếng Trung-hoa quốc-gia và đề-nghị Ðài-loan gởi huấn-luyện-viên người nhái qua Nam Việt-nam. Trong khi chuyện gởi huấn-luyện-viên qua Nam Việt-nam không bao giờ trở thành hiện-thực, thì cuối năm đó một toán LLÐB Ðài-loan được gởi sang hoạt-động ở vùng châu-thổ sông Cửu-long.

Khi hoạt-động ở vùng châu-thổ, toán biệt-kích Ðài-loan làm việc với cha Nguyễn-lạc-Hoá, một linh-mục Thiên-chúa giáo chống cộng. Cha Hoá đã từng là trung-tá trong quân-đội Trung-hoa của Tưởng khi còn trong lục-địa. Sau khi Tưởng chạy ra Ðài-loan, cha Hoá chạy xuống phương Nam, miền Ðông-dương thuộc Pháp. Ông tìm được nơi trú-ẩn an-toàn dưới chế-độ nhân-ái, trọng Thiên-chúa giáo của giới lãnh-đạo ở Nam Việt-nam. Xuống tỉnh An-Xuyên, miền cực Nam của vùng châu-thổ sông Cửu-long, cha Hoá đoàn-ngũ hoá con chiên thành lực-lượng tự-vệ. Với sự trợ giúp của toán LLÐB Ðài-loan, chẳng bao lâu họ quét sạch du-kích Việt-cộng ra khỏi địa-phương.

Trong khi cha Hoá đặt trọng-tâm vào An-Xuyên, ông vẫn luôn luôn cổ-võ cho vấn-đề xâm nhập, khuấy-rối miền Bắc Việt-nam. Cho tới lúc cuối ông vẫn duy-trì liên-hệ chặt chẽ với Ð/tá Lê QuangTung và Ð/úy Ngô Thế Linh của Sở liên-lạc phủ tổng-thống, ông giới-thiệu với họ những người có thể huấn-luyện để trở thành điệp-viên, tuyển-lựa trong đám con chiên thuộc cộng-đồng công-giáo di-cư của ông. Qua tay cha Hoá, CIA thâu nhận một viên Ð/úy đứng tuổi của quân-lực Nam Việt-nam tên là Lương-Hàng, gốc người Nùng làm sĩ-quan điệp-vụ.

Chính-quyền ông Diệm bị lật đổ vaò tháng 11/1963. Cha Hoá cũng bị lu mờ từ đó. Liên-lạc giữa Sàigòn và Ðài-bắc vẫn tiến-triển. Máy bay C-123 với phi-hành đoàn Ðài-loan đã thả hàng loạt toán xâm nhập vào miền Bắc Việt-nam. Từ những hợp-tác này, Tướng Nguyễn-văn-Thiệu của quân-lực Nam Việt-nam qua Ðài-loan tháng 6/1964 để bàn-bạc thêm về hợp-tác quân-sự. Vài tháng sau, khoảng tháng 10 MACV và Nam Việt-nam đồng-ý cho thiết-lập một phái-bộ Trung-hoa dân-quốc gồm 15 người, cố vấn cho Nam Việt-nam về chiến-tranh tâm-lý và chính-trị.

Sàigòn cần nhiều sự giúp đỡ hơn là chỉ một nhóm nhỏ cố-vấn. Tháng 8/1965, Thủ-tướng Nguyễn-cao-Kỳ đi Ðài-loan và trở về với nhiều cam-kết được giúp đỡ về kỹ-thuật và vật-liệu. Thêm vào đó Trung-hoa dân-quốc còn gián-tiếp đề-nghị là họ sẵn sàng đáp-ứng cho thêm nếu cần, các trợ giúp khác. Lời hứa-hẹn lửng-lơ này trở thành rõ ràng khi cuối tháng đó Tr/tá Ngô-thế-Linh lúc đó là chỉ-huy trưởng của nhóm biệt-hải qua Ðài-loan bàn về vấn-đề gởi điệp-viên từ miền Nam xâm nhập vào Bắc-Việt và Tầu-cộng. Miền Nam cung-cấp điệp-viên và gởi sang huấn-luyện tại Ðài-loan. Ðài-bắc cũng hứa sẽ cung-cấp giấy tờ giả-mạo và tầu siêu-tốc để gởi điệp-viên xâm nhập duyên-hải miền Bắc. Một số khác sẽ xâm nhập từ Cao Miên và Lào bằng phương-tiện máy bay thương-mại.

Ngay khi những lời hứa-hẹn này được tuyên-bố, kế-hoạch dự-định đã được phái quốc-gia cực-đoan ở Ðài-loan ủng-hộ. Ðến tháng 9, không chờ ý-kiến từ Nam Việt-nam, 4 điệp-viên thẩm-thấu vào Hoa-lục bằng cách du-hành hợp-pháp qua ngã Nam-vang và Vạn-tượng. Cho mãi đến đầu năm sau đó, sự hợp-tác bí-mật với Ðài-loan mới được khơi lại và lần này, SOG đóng vai chính-yếu.

SOG ve-vãn với Ðài-loan là một điều dễ hiểu, vì mối giao-hảo giữa Bắc Việt-nam và Tầu-cộng lúc đó. Trong thập-niên 60, hai quốc-gia này hiềm khích lẫn nhau một cách tệ-hại, dẫn đến chỉ trích lẫn nhau một cách hạ-cấp. Cuối cùng của màn võ mồm này là Việt-cộng nhìn Trung-cộng với con mắt nghi-ngờ. Hiềm-khích càng tăng lên khi liên-bang Sôviết đột-ngột tăng viện-trợ quân-sự cho Hà-nội trong năm 1965 làm cho Bắc-kinh càng lên ruột hơn. Trong khi Bắc-kinh ngoài mặt cố gắng giữ sự đoàn-kết với Bắc Việt-nam, nhiều nhà quan-sát ngoại-giao đoan chắc rằng, bề trong mâu-thuẫn giữa hai quốc-gia rất là căng-thẳng.

Tình-trạng căng-thẳng này giúp cho Hoa-thịnh-Ðốn và Ðài-bắc cơ-hội thuận-tiện để thiết-lập một cuộc chiến-tranh ngoại lệ. Tháng 5/1965 bộ-trưởng quốc-phòng Ðài-loan, Tưởng-kinh-Quốc con của Tưởng Thống Chế đề nghị thả biệt-kích xuống Tây Nam Trung-hoa lục-địa để phá đường tiếp-liệu của Hà-nội, 4 tháng sau Hoa-thịnh-Ðốn rỉ tai Ðài-bắc cho thả dù điệp-viên Trung-hoa quốc-gia xuống gần biên-giới Bắc Việt-nam để nghe lén mạng lưới truyền-tin của Bắc-kinh. Quả là một hành-động cương-quyết, chính-sách Hoa-kỳ đã thay đổi. Từ năm 1956, Hoa-thịnh-Ðốn đã nhiều lần tự-chế, né tránh những cuộc chạm trán với lục-địa nhưng 9 năm sau họ đã khởi-động, khuyến-khích đám quốc-gia cực-đoan khuấy-rối Hoa-lục. Tưởng-kinh-Quốc không thể bỏ mất cơ-hội may mắn này. Mỗi bên có nguyên-do riêng cho hành-động này: Hoa-kỳ cần tin-tức tình-báo, trong khi Ðài-loan thấy có cơ-hội để gởi điệp-viên vào tỉnh Vân-nam. Nhiệt-tình của Ðài-bắc làm cho Hoa-thịnh-Ðốn nghi-ngại, e rằng Ðài-bắc quá hăng-hái và chuyển căn-bản từ những toán thám-báo thành một cuộc chiến thực-thụ. Ðể tránh chuyện này xẩy ra, cho SOG dính-líu vào để cầm chân Ðài-bắc.

Ðược chuyển từ kế-hoạch khởi đầu là các toán người Trung-hoa quốc-gia, nay hợp-tác với SOG, kế-hoạch hành-quân thay đổi. Ðáng lẽ gởi điệp-viên Ðài-loan vào thẳng Vân-nam, SOG đề-nghị thả những toán nằm dài hạn xuống tỉnh Lào-cai, nằm dọc theo biên-giới Việt-nam và Trung-cộng. Những toán này sẽ được xử-dụng để quan-sát lưu-lượng giao-thông: đường bộ, đường hoả-xa và tầu bè di-chuyển xuôi hướng Ðông-nam từ Trung-cộng xuống Hà-nội. Không có gì đáng ngạc-nhiên khi đề-nghị của SOG về mục-tiêu Lào-cai làm cho Trung-hoa quốc-gia rất phấn-khởi. Trong khi bàn soạn, Ðài-bắc đồng-ý chuyển bãi đáp ra phía Ðông-bắc thuộc tỉnh Hà-giang, khu-vực đồi núi và thưa dân. Hà-giang không có nhiều mục-tiêu chiến-lược như Lào-cai, nhưng Hà-giang có một biên-giới dài và hoang-vu ăn sâu vào đất Trung-cộng. Theo như chương-trình sắp xếp lại; một toán Việt-nam sẽ nhẩy xuống Hà-giang và làm an-ninh bãi đáp trước cả tháng, sau đó một toán Trung-hoa quốc-gia sẽ nhẩy xuống hiệp-đoàn với họ. Và rồi họ sẽ cùng tiến về phương Bắc vào lãnh-thổ Trung-cộng.

Kế-hoạch quả là quá lạc-quan. Thành-quả các toán dài hạn của SOG thật là lèm nhèm, của Ðài-loan lại còn tệ hơn. Bỏ ngoài tai những thất-bại thảm-thương trước đó, kế-hoạch được thi-hành. Ðài-bắc rất nóng nẩy chờ thả biệt-kích vào lục-địa, nhất là lại được ô dù của Mỹ che chở. Trong khi SOG chưa có thể chứng-minh được lợi-ích thực-tiễn của cuộc hành-quân, bộ-trưởng quốc-phòng được thông-báo về kế-hoạch vào tháng 10/1966 và CINPAC chấp-thuận tháng 5 sau đó. Tại Long-thành, phần người Việt một nửa toán nhẩy vào Hà-giang bắt đầu thành-lập tháng 8/1966. Sĩ-quan điệp-vụ là thiếu-tá Lương-Hàng, viên sĩ-quan Nùng mà cha Hoá tiến-cử trước đó, được gọi bí-danh là Mathieu. Hàng là người đáp-ứng đủ điều-kiện cho điệp-vụ hợp-tác với Ðài-bắc vì ông có dòng máu Trung-hoa và nói được tiếng Tầu.

Dưới quyền điều-khiển của Mathieu, một lớp điệp-viên 30 người, sàng-xẩy được 12 BKQ, tiến-hành tập-luyện tại Long-thành. Ðặt tên là toán Red-Dragon, tất cả là người Việt miền Bắc. Ðược chọn làm toán trưởng là Nguyễn-thái-Kiên (*) một quân nhân kinh-nghiệm, đã trải qua nhiều cuộc giao-chiến với Việt-minh trong chiến-dịch biên-giới, dọc theo lân-quốc Trung-hoa và trận chiến Ðiện-biên-phủ. Vào Nam sau 1954, ông gia-nhập lực-lượng nhẩy dù của chính-phủ quốc-gia và thuộc nhóm thiếu-úy trẻ tình-nguyện qua SOG cuối năm 1965,và là toán trưởng người Việt trong các cuộc hành-quân Shinning-Brass hoạt-động vượt-biên qua Lào. Từ đàu năm 1967, toán Red-Dragon được huấn-luyện tại Long-thành. Các toán viên được thực-tập phá-hoại và xử-dụng tất cả các loại vũ-khí, kể cả loại hoả-tiễn 3,5 inch. Họ cũng được học gấp rút tiếng Tầu.

Ngày 24/2, toán Red-Dragon được hội-nhập với nửa phần kia là các quân-nhân LLÐB của Trung-hoa quốc-gia. Ðể khỏi bị lộ tông-tích, nhóm 13 người Ðài-loan này được đặt tên bằng tiếng Việt.
Trong 6 tháng, toán Red-Dragon hỗn-hợp này sát cánh thực-tập với nhau tại Long-thành. Ngày mãn khoá, vào tháng Tám, họ được thả xuống một nơi gần Ðà-lạt, hành-quân thực-thụ để thực-tế chiến-trường. Chạm địch, hạ-sát 2 du-kích, bắt sống 2 tù-binh và tịch-thu 5 súng trường. Vào giữa tháng Chín, một nửa toán Red-Dragon của người Việt chỉ còn lại có tám người, được trải qua những trắc-nghiệm cuối cùng. Toán trưởng Kiên được vinh thăng Ð/úy, viên toán phó Phạm-xuân-Kỳ lên một cấp là Th/sĩ. Mathieu cùng Ð/úy Frederic Caristo của SOG trao đổi với họ những lời dặn dò cuối cùng. Kiên giao hẹn sẽ liên-lạc với Sở trong vòng 3 ngày sau khi tới mục-tiêu, nếu không kể như đã rơi vào tay địch. Nhiệm-vụ của họ là chờ cho đến khi phần nửa toán còn lại của Trung-hoa quốc-gia nhẩy xuống, hội-nhập với họ và tiến vào Trung-hoa lục-địa. Ngày 21/9, cả 8 BKQ mặc đồ bảo-hộ nhẩy dù và leo lên một chiếc MC-130. Hầu hết đồ tiếp-liệu của họ để trong một kiện hàng lớn, trong có máy phát tín-hiệu và mỗi điệp-viên đều có trang-bị máy dò tìm, để khi xuống đất trong đêm tối, họ tìm lại tiếp-liệu và hội lại với nhau không mấy khó khăn.

Cất cánh vào ban đêm, máy bay ghé qua Nha-trang, Từ đó bay vòng ra vịnh Bắc-Việt theo hình vòng cung, ngược chiều kim đồng hồ. Với những phi-cụ tối-tân, phi-hành đoàn cho phi-cơ bay thật thấp về hướng Tây, dọc theo dẫy núi non hiểm-trở giữa Bắc Việt-nam và Trung-cộng. Ðúng 2 giờ sáng trên không-phận tỉnh Hà-giang, bửng sau máy bay hạ xuống. Toán được chia làm hai như đã hoạch-định trước; đồ tiếp-liệu và toán trưởng sẽ nhẩy xuống trước, tiếp theo đó là chuyên-viên truyền-tin và các toán viên. Có một điều không dự-định trước là gần hết nhân-viên của toán Red-Dragon bị say máy bay. Không biết là tại vì căng thẳng thần-kinh hoặc vì chuyến bay bị nhồi sóc quá độ, các BKQ trừ một ngưòi Việt và hai chuyên-viên thả dù người Mỹ, số còn lại thay phiên nhau nôn mửa trên sàn tầu.
Khi ngọn đèn xanh bật lên, toán Red-Dragon đều đã rệu-rã. Ðể làm gương, Kiên và kiện hàng biến mất trong không-gian. Phàn-nàn chuyến bay làm cho quá mệt mỏi, chuyên-viên phá-hoại Trịnh-quốc-Anh khuỵu xuống và không chịu nhẩy. Thấy vậy, toán viên thứ hai cũng từ-chối và rồi toán viên thứ ba. Một phút đã trôi qua và chuyên-viên thả dù phải khuyến-khích, xô đẩy toán Red-Dragon ra cửa sau phi-cơ.Trong khi đó Kiên và kiện hàng tiếp-liệu đã rơi xuống một khoảng cách khá xa. Cuối cùng 6 toán viên khác cũng nhẩy. Không có cách nào làm cho Anh rời máy bay được; anh ta ở lại trên chiếc MC-130E bay trở lại Nam Việt-nam (Trịnh-quốc-Anh sau này bị bắn chết bởi một toán viên khác, khi gây-gỗ với nhau về việc chia phiên đi lấy nước, trong một cuộc hành-quân cũng ở Bắc Việt-nam ).

Rời khỏi máy bay cuối cùng là Nguyễn-hữu-Tấn, một người công-giáo quê ở Thái-bình, nhân-viên cứu thương của toán, Tấn nhìn thấy những cánh dù của đồng-đội nở hoa dưới ánh trăng.Anh cũng nghe tiếng xe tải và ánh đèn từ một trạm biên-phòng, anh biết chắc rằng họ sẽ bị lộ khi tới được mặt đất.

Ðáp xuống một bụi tre mọc giữa lưng đồi, Tấn tháo gỡ đai dù. Các BKQ được lịnh thâu-hồi dù và phá-hủy với một dung-dịch acid đặc-biệt để phi-tang. Nhưng dù của Tấn mắc cao trên ngọn tre, anh bỏ mặc đó và di-chuyển khỏi bãi đáp. Bởi vì có sự chậm trễ do dằng co khi nẫy trên máy bay, giờ đây anh đáp xuống hướng Tây-nam và cách mục-tiêu là biên-giới Tầu gần 50 cây số. Mặc dầu đây là khu thưa dân cư, cũng có một con lộ đi qua và được canh gác bằng một lực-lượng phòng-vệ đông đảo của Bắc-Việt và một pháo-đội phòng-không của Trung-cộng. Tính thầm rằng kiện đồ tiếp-liệu phải rơi xuống thung-lũng phía dưới, Tấn bật máy dò tín-hiệu, vì dùng dằng khi nhẩy nên khoảng cách hai nơi đã quá xa, quá tầm hoạt-động của máy. Với tiểu-liên Thụy-điển trên tay ( Sweedish-K, bắn đạn 9mm ), Tấn mò xuống chân đồi vì nghĩ rằng đồng-đội đã đáp xuống đó. Chỉ trong ngày, anh gặp được chuyên-viên truyền-tin Lê-trung-Tín. Máy rà tín-hiệu của Tín cũng không hoạt-động, họ không có cách nào để kiếm đồ tiếp-liệu gồm đồ ăn, quần áo và máy đánh morse GRC-109 để liên-lạc với Sàgòn qua trung-gian đài tiếp-vận BUGS ở Phi-luật-Tân. Máy phát tuyến cầm tay HT-1 cũng không hoạt-động hữu-hiệu trên miền núi non làm họ cũng không thể liên-lạc được với các toán viên khác.
Ròng rã hai ngày, hai BKQ đi ruồng trong rừng để kiếm đồng-đội. Ðơn-độc và đói, cuối cùng họ quyết-định tìm đường qua Lào. Chỉ một ngày sau, các toán tuần-tiễu Bắc-Việt tìm ra họ, Tấn và Tín bị bắt một cách dễ dàng.

Ba toán viên khác của toán Red-Dragon cũng chỉ may mắn hơn một chút. Rơi xuống thung-lũng, họ gặp lại nhau ngày hôm sau; ở gần kiện hàng hơn, máy dò tìm của họ hoạt-động,mò theo đó họ tiếp-tục đi về phương Bắc. Họ đi gần một tuần mà cũng không tìm ra đồ tiếp-liệu. Tới lúc đó Bắc Việt-nam đã huy-động lực-lượng càn quét khu-vực trung-du, chẳng bao lâu cả 3 BKQ bị bao vây và bắt giữ.

Vài ngày sau đó, hai người còn lại của toán Red-Dragon cũng bị bắt nốt. Bắc-Việt dùng nhân-viên truyền-tin bắt liên-lạc với BUGS. Trước khi ra đi, các BKQ đã hẹn là trong vòng 3 ngày sẽ gọi về. Giờ đây, sau gần 2 tuần họ mới liên-lạc, SOG không tin là họ được an-toàn. Mathieu lại tin rằng mọi chuyện đều xuông-sẻ và yêu-cầu tái tiếp-tế. Ngày 17/10 trong một phi-vụ oanh-tạc, một chiếc Phantom F-4C xé bầy bay tới Hà-giang và thả đồ tiếp-tế, ngụy trang trong vỏ bom napalm.

Không phải chỉ có SOG nghi-ngờ, Ðài-loan cũng e-dè và giữ các BKQ của họ ở lại Long-thành. Trước khi quyết-định gởi BKQ của họ ra Bắc, họ yêu-cầu gởi điệp-viên xuống Hà-giang để kiểm-chứng tình-trạng của toán Red-Dragon. Toán mới, Red-Dragon Alpha chỉ có hai nhân sự. Một trong 2 người đó là Trịnh-quốc-Anh, người đã từ-chối nhẩy vào mục-tiêu lần trước.

Không phải là một toán tiếp-ứng bình thường, Red-Dragon Alpha sẽ nhẩy vào, ở lại mục-tiêu 2 tuần-lễ để xác-định mức an-toàn của toán Red-Dragon, rồi sẽ được triệt-xuất bằng phương-cách Fulton- Skyhook system ( Vớt người bằng hệ-thống móc trang-bị trước mũi của C-130, và khi máy bay đã bình-phi, người được cứu lúc đó bay theo phía sau của máy bay sẽ được kéo vào trong phi-cơ theo lối cửa sau, phương-pháp này rất là nguy-hiểm, chỉ được xử-dụng khi đã vô-kế khả-thi).

Toán Red-Dragon Alpha được sắp-xếp để nhẩy vào mục-tiêu tháng giêng 1968. Tuy nhiên, sau những trao đổi truyền-tin, SOG đánh hơi được người của mình đã sa vào tay giặc nên bãi bỏ kế-hoạch dự-định và Ðài-bắc đã rút toán biệt-kích của họ về.

Lược-dịch Nguyễn-đức-Tuấn

Toán Red-Dragon
nguyên-tác : Spies & Commandos
Kenneth Conboy & Dale Andradé

Sunday, October 3, 2021

Nha Kỹ Thuật - Bộ Tổng Tham Mưu - Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

 I. LỜI GIỚI THIỆU

NHIỆM VỤ

Chỉ huy các lực lượng và nhân viên trực thuộc hoặc tăng phái cho các loại hành quân đặc biệt trong chiến tranh ngoại lệ theo lệnh của bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

NGUỒN GỐC

Do phiá cộng sản gia tăng các hoạt động trên lãnh thổ VNCH sau hiệp định Geneva năm 1954, một cơ quan bí mật, đặc biệt được thành lập vào năm 1958 dưới sự chỉ huy của Tổng Thống VNCH. Nhiệm vụ của cơ quan bí mật này là thu thập tin tức tình báo các hoạt động của đối phương nơi hướng bắc vùng phi quân sự, và tìm kiếm các mục tiêu chiến lược để tiêu hủy trong trường hợp xẩy ra chiến tranh với phương bắc. Năm 1963, cơ quan này được đặt dưới quyền chỉ huy của bộ tư lệnh Lực Lượng Đặc Biệt.

Tiền thân của Nha Kỹ Thuật ngày nay (lúc bấy giờ) được tổ chức như một “ngành” Đặc Biệt trong bộ tư lệnh LLĐB, chia thành hai sở chỉ huy. Một sở điều hành “cơ quan” xâm nhập bằng phương tiện nhẩy dù (thả các toán Biệt Kích) ở Saigon, cơ quan điều khiển các hoạt động vượt vùng phi quân sự đặt ở Huế, và ở Đà Nẵng có cơ quan điều hành các chuyến hành quân Biệt Hải.

Sở thứ hai lo các hoạt động “ngoại biên”, bao gồm các “văn phòng” ở Vientiane, Savannakhet (Laos), BangKok (Thailand) và Paris (France). Sở này tuyển mộ nhân viên (điệp viên), huấn luyện cho các hoạt động tình báo và phản gián. Tuy nhiên, vì vấn đề ngân khoản chi phí, sở này bị loại bỏ.

Đến năm 1964, tình hình miền nam trở nên nghiêm trọng, “ngành” Đặc Biệt không đủ khả năng chu toàn nhiệm vụ do nhu cầu “Hành Quân Đặc Biệt” gia tăng. Để đáp ứng tình thế mới, “ngành” Đặc Biệt được tái tổ chức thành một đơn vị độc lập, ra khỏi sự chỉ huy, điều hành của LLĐB. Trong tháng Tư 1964, “ngành” Đặc Biệt chính thức đổi tên thành Sở Khai Thác đặt dưới quyền chỉ huy của Bô Tổng Tham Mưu. Đồng thời, quân đội Hoa Kỳ cũng thành lập một đơn vị tương xứng với sở Khai Thác lấy danh hiệu đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (SOG). Đơn vị SOG có nhiệm vụ yểm trợ sở Khai Thác và tổ chức Chiến Tranh Ngoại Lệ.

Sở Khai Thác được tổ chức với bộ chỉ huy ở Saigon, sở Phòng Vệ Duyên Hải ngoài Đà Nẵng, căn cứ huấn luyện ở Long Thành, và được Không Lực VNCH biệt phái một phi đoàn, phối hợp chặt chẽ với Đệ Nhất Phi Đoàn Không Yểm đơn vị MACSOG Hoa Kỳ ở Nha Trang.

Cuốn năm 1964, quân đội Bắc Việt gia tăng mức độ xâm nhập vũ khí, người, đồ tiếp vận vào miền Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh. Để đáp ứng, sở Khai Thác bành trướng vào đầu năm 1965. Từ tháng Tư năm 1964, bộ TTM/QLVNCH ra lệnh tổ chức các chuyến xâm nhập, thám sát trên đất Lào và Miên. Sở Liên Lạc trước đó hoạt động riêng biệt, được sáp nhập vào sở Khai Thác trong tháng Giêng năm 1965.  Sở Khai Thác được nâng cấp và có tên mới là Nha Kỹ Thuật. Lần đầu tiên, một “cơ quan” được bộ TTM/QLVNCH trao trách nhiệm về Chiến Tranh Ngoại Lệ, chống lại sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt. Vị chỉ huy trưởng Nha Kỹ Thuật chỉ nhận lệnh, báo cáo trực tiếp cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Vào thời điểm đó (đầu năm 1965), nha Kỹ Thuật bao gồm các đơn vị: sở Liên Lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, đơn vị Đặc Nhiệm, trung tâm huấn luyện Long Thành. Ngoài ra ban Tâm Lý Chiến cũng được phát triển để đáp ứng nhu cầu chiến tranh ngoại lệ, các hành quân đặc biệt.

Vào giữa năm 1970, liên đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ về nước, nha Kỹ Thuật lấy thêm quân Mũ Xanh (LLĐB) để thành lập sở Công Tác.

TỔ CHỨC
Nha Kỹ Thuật được tổ chức bao gồm hai sở (đơn vị) nồng cốt: sở Liên Lạc và sở Công Tác. Sở Liên Lạc thực hiện các chuyến hành quân xâm nhập trên đất Cambodia và phiá nam khu vực ba biên giới (Tam Biên) trong miền nam. Sở Công Tác nhận nhiệm vụ trên đất Laos và khu vực ba biên giới. Ngoài nhiệm vụ chính yếu thám sát, các toán biệt kích còn thực hiện các chuyến xâm nhập đặt máy nghe lén điện thoại, bắt tù binh, gài mìn trên đường mòn HCM, và điều chỉnh phi cơ chiến thuật, pháo binh vào các mục tiêu quan trọng của đối phương.

Sở Liên Lạc được tổ chức với ba (3) chiến đoàn cùng với các đơn vị yểm trợ. Khả năng của sở Liên Lạc giảm đi sau tháng Năm 1972, kết qủa việc giải tán đơn vị biệt kích cùng với các đại đội bảo vệ.

Sở Công Tác được phép thành lập với năm (5) đoàn. Các toán biệt kích sở Công Tác được tổ chức tương tự như các toán A Lực Lượng Đặc Biệt để đảm trách chiến tranh ngoại lệ trên miền Bắc Việt Nam và Laos.

Ngoài ra, nha Kỹ Thuật còn có hai đoàn nổi danh 11 và 68 đóng ở Đà Nẵng và trong Saigon. Đoàn 11 bao gồm các toán biệt kích 12 người gọi là STRATA chuyên do thám đường mòn HCM, đặt máy nghe lén, tìm mục tiêu quan trọng của địch cho phi cơ oanh kích. Đoàn 68 điều hành hai “chương trình” bí mật. Chương trình Earth Angel xử dụng các toán “biệt kích” ba hoặc bốn người để do thám, thâu thập tin tức tình báo. Biệt kích Earth Angel được tuyển mộ từ những hồi chánh viên sau khi đã qua kỳ khảo sát “khai thật”. Chương trình Pike Hill xử dụng “nhân viên” người Việt gốc Miên (Khmer), tổ chức thành các toán biệt kích từ ba đến năm người, chuyên thâu thập tin tức tình báo các hoạt động của địch trên đất Cambodia. Để bảo mật, đoàn 68 có sở chỉ huy trong Saigon, các toán biệt kích được huấn luyện trong trại Yên Thế gần Long Thành.

HOẠT ĐỘNG & KHẢ NĂNG
Cho đến đầu năm 1972, Nha Kỹ Thuật được trao phó nhiệm vụ về các hoạt động “vượt biên” ngoài lãnh thổ VNCH (Miên, Lào, Bắc Việt). Tuy nhiên vào tháng Tư năm 1972, quân đội Bắc Việt tấn công trong dịp lễ Phục Sinh (Mùa Hè Đỏ Lửa), Nha Kỹ Thuật nhận thêm nhiệm vụ, trinh sát, lấy tin tức chiến lược cho các Vùng Chiến Thuật. Sự thay đổi này, một phần do mất đi  không yểm của người Hoa Kỳ, sau ngày 5 tháng Năm 1972. Chuyện này suy giảm khả năng “vượt biên” lấy tin tức tình báo chiến lược cho cơ quan MACV (Bộ Chỉ Huy Quân Viện) và bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH của Nha Kỹ Thuật.

II. TOÁN CỐ VẤN 158 (STDAT-158)
NGUỒN GỐC VÀ NHIỆM VỤ
Trước khi ngừng hoạt động vào ngày 30 tháng Tư năm 1972, đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (MACSOG) đã cố vấn, yểm trợ Nha Kỹ Thuật được hai năm. Một ban cố vấn hỗn hợp được thành lập, lấy nhân viên từ những người còn lại (cắt giảm nhân viên) cơ quan MACSOG, lấy danh hiệu “toán Cố Vấn 158” (STDAT-158), bao gồm 152 quân nhân Lục Quân, 6 Hải Quân, và 2 người thuộc Không Quân. Toán 158 được thành lập bí mật theo lệnh của vị Tư Lệnh cơ quan Quân Viện MACV vào ngày 30 tháng Tư năm 1972. Toán 158 bắt đầu hoạt động từ ngày 1 tháng Năm 1972, có nhiệm vụ cố vấn, trợ giúp tiền bạc, quân dụng cho Nha Kỹ Thuật trong Chiến Tranh Ngoại Lệ, liên lạc trực tiếp giữa cơ quan MACV và Nha Kỹ Thuật. Toán 158 phải báo cáo cho phòng 2 (J2-Tình Báo Tác Chiến) và phòng 3 (J3-Hành Quân) về các hoạt động của Nha Kỹ Thuật.

Vị chỉ huy toán 158 nhận lệnh trực tiếp từ cơ quan MACV. Để bảo mật, trong sơ đồ tổ chức toán 158 (STDAT-158) nằm trong đoàn cố vấn (Advisory Group). Ngoài nhiệm vụ cố vấn, toán 158 thêm nhiệm vụ tổ chức, trang bị, huấn luyện đơn vị cho các hành quân đặc biệt (Special Mission Force – SMF) và đơn vị thâu hồi ven biển (Coastal Recovery Force – CRF).

Cho đến giữa tháng Mười Một 1972, toán 158 có nhân viên làm việc trong các sở chỉ huy, căn cứ của Nha Kỹ Thuật. Người Hoa Kỳ tiếp tục chương trình giảm quân, toán 158 chỉ còn lại 42 quân nhân Lục Quân, 1 Hải Quân và 1 Không Quân. Hiệu lực kể từ ngày 1 tháng Mười Hai năm 1972, toán 158 tiếp tục nhiệm vụ cố vấn cho Nha Kỹ Thuật, tuy nhiên khả năng của toán đã giảm đi nhiều. Nói tổng quát, nhiệm vụ của toán 158 sau trận tấn công lễ Phục Sinh bao gồm những điểm chính sau đây:

1. Soạn thảo, tái tổ chức theo lệnh giảm quân.

2. Hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm cho Nha Kỹ Thuật cùng với đồ trang bị, tiếp liệu hoạt động dễ dàng.

3. Tổ chức nhanh chóng đơn vị Hành Quân Đặc Biệt (SMF) và Thâu Hồi Đường Biển (CRF) để sẵn sàng nhận nhiệm vụ trao phó.

4. Theo lệnh cơ quan MACV nhằm đáp ứng nhu cầu khẩn của vị chỉ huy trưởng nhóm cố vấn Hoa Kỳ trên Quân Đoàn II, toán 158 thành lập một toán huấn luyện đặc biệt (STT). Toán huấn luyện này sẽ huấn luyện một số đơn vị chọn lọc thuộc QĐ II / VNCH về kỹ thuật trinh sát và Biệt Động Quân. Chương trình huấn luyện này nhằm gia tăng khả năng của Quân Đoàn II, xâm nhập sâu vùng địch kiểm soát, trinh sát, đột kích, phá hoại.

Như đã bàn đến trong phần trước, trận tấn công lễ Phục Sinh làm thay đổi quan niệm việc xử dụng Nha Kỹ Thuật của bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Kể từ tháng Tư năm 1972, các bộ tư lệnh QĐ I, II, III, và Quân Khu Thủ Đô được trao quyền chỉ huy các sở chỉ huy của Nha Kỹ Thuật nằm trong vùng chiến thuật. Các vị tư lệnh vùng chiến thuật vẫn bị áp lực cần biết các hoạt động của đối phương trên đất Lào và Miên. Đến giữa tháng Mười Một khi nhu cầu không yểm được gia tăng, Nha Kỹ Thuật tổ chức các cuộc hành quân xâm nhập “vượt biên”.

Ngoài nhiệm vụ tổ chức các cuộc hành quân xâm nhập vào hậu phương của địch, Nha Kỹ Thuật điều hành một cuộc chiến tranh tâm lý đặc biệt theo kế hoạch của bộ tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ (CINPAC công điện 060333Z tháng Sáu 1972). Nội dung công điện được bảo mật, ngoài sự hiểu biết bài viết này.

Theo lệnh của Tổng Thống Hoa Kỳ ngưng tất cả các hoạt động quân sự (của Hoa Kỳ) chống lại Cộng Hoà Dân Chủ Việt Nam (DRV - Bắc Việt), theo hiệp đinh ngừng bắn ngày 15 tháng Giêng năm 1973, toán cố vấn 158 hủy bỏ tất cả các cuộc hành quân chống lại miền Bắc. Sau ngày ký hiệp định ngừng bắn (28 tháng Giêng năm 1973), toán 158 chuẩn bị “về Hoa Kỳ”, bàn giao kho tiếp liệu House *50 cho Nha Kỹ Thuật. Đến ngày 12 tháng Ba 1973, toán cố vấn 158 ngừng hoạt động.

Chương sau sẽ giới thiệu sâu sắc hơn về vai trò cố vấn của toán 158 trong nhiệm vụ tổ chức, thành lập hai đơn vị Hành Quân Đặc Biệt (SMF) và Thâu Hồi Đường Biển (CRF).

Ngày 9 tháng Hai năm 1973, vị chỉ huy toán cố vấn 158 họp với tư lệnh cơ quan MACV (COMUSMACV) và Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH bàn về ảnh hưởng các cuộc hành quân của Nha Kỹ Thuật, sau khi rút toán cố vấn 158 (STDAT-158) về Hoa Kỳ.

1. Mọi ngân khoản dành cho Nha Kỹ Thuật xử dụng (hành quân, huấn luyện) trong chiến tranh ngoại lệ sẽ chấm dứt. Đoàn 68 sẽ giải thể, cho về  (hồi chánh viên) các biệt kích quân trong chương trình Earth Angels, các biệt kích quân người Việt gốc Miên trong chương trình Pike Hills sẽ bàn giao cho QLVNCH.

2. Vấn đề không trợ cho Nha Kỹ Thuật cùng chung số phận (chấm dứt).

3. Quyền xử dụng không ảnh qua cơ qua MACV, để chọn lọc mục tiêu hành quân cho các toán biệt kích (chấm dứt).

4. Mặc dầu được toán cố vấn 158 bàn giao một kho tiếp liệu lớn, tuy nhiên Nha Kỹ Thuật sẽ không còn toán cố vấn để xin đồ trang bị đặc biệt (vũ khí,…). Toán 158 hy vọng, với kho hang hiện tại, Nha Kỹ Thuật vẫn có đủ đồ dùng trong vòng một năm.

Ngoài ra, các cấp chỉ huy Việt Mỹ bàn thêm vấn đề để cho Nha Kỹ Thuật trở lại với nhiệm vụ chính yếu, thâu thập tin tức tình báo chiến lược. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH cho biết, phi đoàn trực thăng 219, chuyên thả, bốc các toán biệt kích sẽ được Không Lực VNCH biệt phái cho Nha Kỹ Thuật xử dụng.

ĐƠN VỊ HÀNH QUÂN ĐẶC BIỆT (SMF)
NGUỒN GỐC
Ngày 19 tháng Bẩy năm 1972, đại đội an ninh (bảo vệ) Golf-5 (GSC) di chuyển từ Ban Mê Thuột đến doanh trại của toán 36 nơi hướng bắc thành phố Pleiku. Sau khi di chuyển 150 quân nhân sắc dân thiểu số (người Thượng, Dân Tộc), cùng với 14 quân nhân Hoa Kỳ đến căn cứ mới, đại đội an ninh GSC được đặt tên, trao nhiệm vụ mới là Đơn Vị Hành Quân Đặc Biệt (SMF).

NHIỆM VỤ
Bao gồm BK dân sự chiến đấu các sắc dân thiểu số do 21 quân nhân Hoa Kỳ chỉ huy, đơn vị hành quân đặc biệt được trao trách nhiệm: giải cứu tù binh, cấp cứu các quân nhân Hoa Kỳ đang lẩn trốn trong vùng địch kiểm soát, thám sát nơi phi cơ bị rơi, trợ giúp các đơn vị trong đoàn Cấp Cứu Không Hải (Sea Air Rescue – SAR) khi cần đến. Thâu thập tin tức tình báo về tù binh cho các cuộc hành quân giải cứu.

NHÂN VIÊN
  Đơn vị Dân Sự Chiến Đấu trong đơn vị Hành Quân Đặc Biệt bao gồm ba sắc dân thiểu số, 98% người Rhade, Sedang và Jarai, vài người thiểu số Nùng và Việt. Phần lớn đã có kinh nghiệp chiến đấu, phục vụ trong các đơn vị do Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tuyển mộ, năm hoặc sáu năm. Thời gian lâu dài đủ để họ hiểu được những câu tiếng Anh căn bản, lệnh lạc quân đội nên không cần có người thông ngôn. Ngoại trừ trường hợp khó khăn, đòi hỏi chi tiết, lúc đó cần ba người thông ngôn cho ba bộ lạc khác nhau.
Trước khi được trao phó trách nhiệm, nhiều quân nhân trong đơn vị đã phục vụ trong các toán biệt kích thuộc sở chỉ huy trung tâm (Command & Control Central – CCC) trên Kontum. Các toán biệt kích trong đơn vị hành quân đặc biệt gồm sáu hoặc bẩy người, được huấn luyện thêm về nhẩy dù “Cánh Dơi” (HALO – High Altitute, Low Opening) để bí mật xâm nhập, kỹ thuật  viễn thám, lên xuống trực thăng bằng dây cấp cứu STABO. Các quân nhân Hoa Kỳ trong đơn vị này cũng đã phục vụ, có kinh nghiệm trong Lực Lượng Đặc Biệt.

CHỈ HUY / LÀM VIỆC
Quân nhân LLĐB/HK trong đơn vị hành quân đặc biệt không làm nhiệm vụ cố vấn mà trực tiếp chỉ huy đơn vị, chia làm ba trung đội và một ban chỉ huy, hành chánh yểm trợ. Mỗi trung đội trưởng Hoa Kỳ có một đối tác người điạ phương, tuy nhiên người Hoa Kỳ hoàn toàn quyết định mọi vấn đề. Quyết định về mục tiêu hành quân tùy theo hệ thống chỉ huy của người Hoa Kỳ. Cấp chỉ huy người đia phương được trao quyền hành rộng rãi để gây ảnh hưởng đối với các quân nhân, khả năng tác chiến trong trung đội. Bình thường trung đội trưởng hoặc viên Trung Sĩ (phó) sẽ ra lệnh cho người đối tác chỉ huy. Đó là nguyên tắc, tuy nhiên nhiều cuộc hành quân thường ở cấp tiểu đội (toán) biệt kích.

TIẾP LIỆU
Là một đơn vị đặc biệt, ban tiếp liệu toán cố vấn 158 (STDAT-158) cung cấp 95% nhu cầu cho đơn vị hành quân đặc biệt, để bảo đảm đơn vị này sẵn sàng hành quân cấp tốc với đầy đủ vũ khí, “đồ dùng” đặc biệt. Những đồ trang bị này được phi cơ do toán 158 thuê để chuyên chở riêng.
Cấp chỉ huy đơn vị hành quân đặc biệt là một Thiếu Tá Hoa Kỳ (O-4), đối tác của ông ta là một người điạ phương, có thể là Tù Trưởng một bộ lạc người thiểu số, có uy tín. Một quân nhân người điạ phương trong đơn vị có thể “xin nghỉ” việc hoặc bị loại vì kém khả năng. Điều này ít xẩy ra, người điạ phương tuân lệnh một cách tuyệt đối, không như trong các đơn vị khác thuộc Quân Lực Hoa Kỳ. Ngoài ra các quân nhân người thiểu số chứng tỏ họ là “Vua” của rừng xanh.

HÀNH CHÁNH
Vấn đề hành chánh, yểm trợ cho các quân nhân điạ phương bao gồm: phần thưởng, nghỉ phép, ăn uống, và phụ cấp gia đình (có giới hạn). Tiền lương của họ tương đối cao so với người bản xứ QLVNCH. Vị chỉ huy trưởng Hoa Kỳ có toàn quyền, thâu nhận hoăc sa thải một quân nhân người dân tộc.

HÀNH QUÂN & HUẤN LUYỆN             
1. KHỞI THỦY: Sau khi tái tổ chức đơn vị hành quân đặc biệt (SMF) được huấn luyện để chu toàn nhiệm vụ trao phó đã định sẵn. Khi còn là đại đội an ninh Golf-5, đơn vị này thường được trao nhiệm vụ thám sát khu vực phi cơ lâm nạn, điển hình là vụ chiếc C-46, SOG thuê của hãng hàng không China Airline, chở 32 quân nhân, nhân viên và chiếc thuê của hãng Cathay Pacific với 82 nhân viên. Không một người sống sót trên cả hai chiếc phi cơ. Chiếc C-46 mang mật danh Echo Mike-2 chuyên chở nhân viên cho toán cố vấn 158 (STDAT-158) từ Ban Mê Thuột đi Pleiku ngày 5 tháng Sáu bị mất liên lạc với hệ thống radar. Một toán quân Golf-5 gồm 16 quân nhân Hoa Kỳ, 55 quân biệt kích người thiểu số được lệnh tìm kiếm chiếc phi cơ lâm nạn. Thời tiết lúc đó gây khó khăn, tuy nhiên đến ngày 9 tháng Sáu, họ tìm ra và thâu hồi tử thi cho đến ngày 16 tháng Sáu gồm có 11 quân nhân Hoa Kỳ, 15 Việt Nam và 6 người Hoa (phi hành đoàn). Cũng trong ngày 16 tháng Sáu, một đơn vị gồm 3 quân nhân Hoa Kỳ, 25 biệt kích quân đến vị trí chiếc máy bay Cathay Pacific thâu hồi được 65 tử thi. Hiệu qủa của các cuộc hành quân loại này, quân đội Hoa Kỳ phát triển các loại vũ khí, dụng cụ mới đặc biệt cho các cuộc hành quân tương tự sau này.

2. THỜI GIAN HUẤN LUYỆN:
19 tháng 7 – 16 tháng 8, 1972: Khi đi chuyển lên doanh trại mới ở Pleiku, đơn vị hành quân đặc biệt được huấn luyện hai tuần lễ “thuần thục” (intensive), căn bản cá nhân chiến đấu của người lính bộ binh trong chiến tranh quy ước. Các loại vũ khí cá nhân, toán xử dụng (vũ khí cộng đồng), kỹ thuật tác chiến của toán hoặc cấp tiểu đội… cho đến cấp đại đội 140 người (cả đơn vị SMF). Ngoài việc, người Hoa Kỳ lựa chọn các huấn luyện viên nhiều kinh nghiệm, các cấp chỉ huy đơn vị còn được học hỏi thêm về soạn thảo kế hoạch hành quân, vũ khí trang bị cần thiết cho mỗi loại hành quân.

Các quân nhân trong Lực Lượng Võ Trang Quốc Gia Khmer (FANK) được huấn luyện trong căn cứ Enari. Để việc huấn luyện thêm hiệu quả, người Hoa Kỳ sắp xếp cho đơn vị SMF huấn luyện hành quân thực tập chung với ba đại đội Biệt Động Quân Biên Phòng (một số trại Lực Lượng Đặc Biệt đã được bàn giao, cải tuyển qua Biệt Động Quân từ năm 1970). Bắt đầu từ lúc đó, vấn đề không trợ đã gây khó khăn trong việc chuyển quân. Ngày 29 tháng Bẩy quân nhân trong đơn vị SMF được nhận lãnh quân trang, quân dụng, vũ khí mới.

17 tháng 8 – 23 tháng 8: Trong thời gian này, đơn vị SMF được huấn luyện về thông tin, truyền tin liên lạc, bảo trì máy móc dụng cụ trang bị. Các buổi huấn luyện loại này thường được thực hiện trong phòng học. Các lớp học khác về điạ hình, hành quân đêm… để tăng thêm khả năng tác chiến của đơn vị.

23 tháng 8 – 30 tháng 8: Giai đoạn thực tập hành quân, hầu hết là các mục tiêu thực sự ngoài chiến trường, rất có thể chạm địch. Trong thời gian từ 231300 đến 251300H tháng Tám (13:00 giờ ngày 23 đến 13:00 giờ ngày 25 tháng Tám), đơn vị SMF thực tập hành quân nơi hướng đông thị xã Pleiku. Sau một ngày tuần tiễu, lục soát, một trung đội bắt gặp và truy kích 2 địch quân hôm 25 tháng Tám. Trung đội SMF khám phá một binh trạm cỡ nhỏ của địch vừa mới bỏ hoang tại toạ độ AR-980558. Để lại một tiểu đội canh giữ vũ khí nặng, ba lô, trung đội tiếp tục dò theo dấu vết đường mòn xa hơn về hướng đông. Khi di chuyển ngang qua một trạm gác bỏ trống, người trung đội trưởng ra lệnh cho toán thám sát 6 người tiếp tục tiến lên theo hướng bắc để do thám. Toán này chạm địch, bắn bị thương một địch quân, hơn ba tên khác bỏ chạy biến mất vào rừng. Tên địch bị thương được trực thăng đưa về căn cứ đơn vị SMF cứu thương, khai rằng họ là quân điạ phương trông coi một binh trạm cho quân đội chính quy Bắc Việt trên đường di chuyển về hướng nam. Cuộc hành quân thực tập chấm dứt ngày 26 tháng Tám.
 
Ngày 26 tháng Tám, khoảng 1300 giờ: đơn vị hành quân đặc biệt (SMF) được trao phó nhiệm vụ thám sát phi cơ lâm nạn, thâu hồi tử thi vật dụng chiếc máy bay C-123 trên núi Hàm Rồng phiá nam thị xã Pleiku. Tất cả 8 quân nhân trên chiếc phi cơ đều tử nạn, thi hài được thâu hồi đưa đến căn cứ Holloway (Pleiku) để nhận diện, sau đó đưa về Saigon.

31 tháng 8 – 10 tháng 9, năm 1972: Huấn luyện tiếp tục về thông tin liên lạc, truyền tin, bảo đảm việc di chuyển tuyến xuất phát,  bộ chỉ huy tiền phương, trung tâm hành quân ra khỏi Pleiku đến gần khu vực hành quân bằng máy truyền tin tối tân MRC-108 đặt trên xe Jeep, cho vào bên trong trực thăng CH-47 Chinook.

10 tháng 9 – 17 tháng 9: SMF thực tập nơi hướng đông bắc Pleiku, quân biệt kích tập mang theo ba lô nặng để tăng cường sức chịu đựng. Họ chứng tỏ sức khỏe bền bỉ, khả năng leo núi, đi rừng xuất sắc. Một chuyện nhỏ xẩy ra, một quân nhân lên cơn sốt rét cần được trực thăng đưa về bệnh viện làm chậm mức độ tiến quân 2 giờ đồng hồ.

17 tháng 9 – 1 tháng 10: SMF được huấn luyện lên xuống trực thăng bằng thang dây, dây cấp cứu STABO. Trong thời gian từ ngày 23 đến 28 tháng Chín, SMF tổ chức hành quân thám sát lấy tin tức tình báo tác chiến cho sư đoàn 23 QLVNCH. Do vị chỉ huy phó chỉ huy, cả đơn vị SMF di chuyển bằng xe đến khu vực hành quân cách Pleiku khoảng 15 cây số về hướng tây nam gần Thanh An. Trong lần thực tập này, các trung đội SMF được giao cho các khu vực trách nhiệm riêng biệt, thay đổi hằng ngày. Các trung đội thiết lập căn cứ và tung ra các tiểu đội tuần tiễu, thám sát. Khu vực hành quân bắt đầu nơi hướng bắc quốc lộ 19, SMF thiết lập đường giây liên lạc, phối hợp với vị sĩ quan cố vấn của trung đoàn bộ binh (sđ 23 BB) trong buổi chiều ngày 23 tháng Chín. Ngày 24, SMF di chuyển vào khu vực hành quân, các trung đội vào vị trí đã được trao phó. Trong ngày đầu, các trung đội khám phá nhiều hầm hố chiến đấu vẫn còn mới, băng cá nhân, dụng cụ cứu thương và nhiều vết máu. Qua ngày hôm sau 26 tháng Chín và ngày 27, SMF lục soát trong đồn điền trà cũ, khám phá nhiều hầm hố, dấu vết còn mới không quá 3 tuần lễ, được binh sĩ địch xử dụng, sinh hoạt cách đó khoảng 3, 4 ngày. Hệ thống hầm hố đủ rộng để chứa một bộ chỉ huy cấp trung đoàn quân đội Bắc Việt cùng với đường mòn, dây điện thoại liên lạc. Các trung đội SMF không chạm địch, tuy nhiên bằng chứng cho thấy địch quân mới di chuyển đi nơi khác. Chiều ngày 27, SMF tạm nghỉ để cho một đơn vị VNCH di chuyển ngang qua một nửa phiá đông khu vực hành quân của SMF. Cũng trong ngày 27, tin tình báo cho biết địch xâm nhập từ hướng nam, đông nam, và vị trí đặt súng cối của địch trong khung tọa độ 1632. SMF tổ chức ba trận phục kích đêm, một tại tọa độ ZA175319, khoảng 280450 (4:50 sáng ngày 28), một toán 10 địch quân di chuyển từ hướng đông bắc xuống tây nam dọc theo một con đường lớn. Toán quân Bắc Việt dường như đang lẩn tránh để trở về đơn vị cấp lớn hơn, toán biệt kích nổ súng, địch quân bắn trả lại rồi tẩu thoát. Ngày 28, các trung đội SMF gom lại, di chuyển qua khu vực hành quân mới dọc theo hai giòng suối Ia Tok, Ia Tang, quân biệt kích khám phá nhiều đường mòn theo hướng đông tây, ra vào đồn điền trà nhưng không chạm địch. Đơn vị hành quân đặc biệt (SMF) chấm dứt thực tập vào lúc 4 giờ chiều ngày 28 tháng Chín năm 1972.

2 tháng Mười – 8 tháng Mười: Một toán huấn luyện đặc biệt, 15 quân nhân Hoa Kỳ, 15 Việt Nam đến căn cứ đơn vị SMF để huấn luyện hai tháng kỹ thuật trinh sát nhằm yểm trợ cho quân đoàn II VNCH. Toán huấn luyện đặc biệt này bao gồm nhóm cố vấn STDAT và Nha Kỹ Thuật / TTM. Trong tuần lễ trung đội 2, 3 làm thành phần tiếp ứng, trung đội 1 hành quân trong khu vực An Khê (Bình Định), theo yêu cầu của ban cố vấn quân đoàn II, thâu hồi tử thi (phần còn lại) đưa về Saigon giám định. Để chuẩn bị cho cuộc hành quân, trung đội trưởng TĐ1 bay thám thính, ghé phi trường An Khê phối hợp với vị cố vấn trưởng quận An Túc.

Ngày 3 tháng Mười, trung đội 1 SMF được trực thăng CH-47 Chinook đưa từ căn cứ trên Pleiku đến tọa độ AN455473 gần An Khê. Sau đó trực thăng đưa cấp chỉ huy SMF cùng người đại diện đơn vị Nhận Diện & Thâu Hồi Tử Thi từ Saigon ra đến phi trường An Khê gặp vị cố vấn trưởng quận An Túc. Sau đó cả ba người di chuyển bằng xe đến vị trí một hài cốt (bộ xương) mới tìm thấy năm 1972.

Trung đội 1 được đưa vào khu vực lục soát 36 tiếng đồng hồ nhưng không tìm thấy gì thêm. Khi viên sĩ quan từ cơ quan Nhận Diện & Thâu Hồi Tử Thi (SGR) kết luận “đủ rồi!”, trung đội 1 đang lục soát khu vực sông Ba phiá bắc phi trường An Khê, nơi hồ sơ SGR ghi nhận có hai tử thi quân nhân Hoa Kỳ trên chiếc phi cơ C-123 rơi năm 1966 chưa tìm được.

9 tháng Mười – 15 tháng Mười: Trong khoảng thời gian 10 đến 12 tháng Mười, trung đội 3 SMF hành quân nơi hướng bắc Pleiku yểm trợ cho các toán thám sát huấn luyện, thực tập. Cuộc hành quân này được phối hợp với hai đại đội trinh sát thuộc sư đoàn 22, 23 bộ binh VNCH. Trung đội 3 SMF được trao nhiệm vụ “đài tiếp vận vô tuyến” liên lạc giữa các toán thám sát và trung tâm hành quân SMF. Trung đội 3 SMF được trực thăng VNCH đưa vào khu vực hành quân lúc 10:30 sáng ngày 10 tháng Mười năm 1972.  Đến 11:30 ngày 12 tháng Mười, trung đội 3 SMF di chuyển đến một bãi đáp cho trực thăng VNCH vào đưa về.

Từ ngày 13 đến ngày 15 tháng Mười, trung đội 1 mở cuộc hành quân thám sát trong quận Phú Nhơn. Sau đây là một phần nhật ký hành quân của người sĩ quan trung đội trưởng.

Nhiệm Vụ: Truy lùng và xác định một đơn vị địch khoảng 70 người (tình nghi hoạt động trong khu vực tọa độ AR853076).

Thi Hành: Trung đội 1 SMF được không vận (trực thăng) từ Pleiku lên căn cứ hỏa lực 43 (tọa độ AR851147). Trung đội di chuyển bằng xe từ căn cứ hỏa lực 43 đến tọa độ AR879088 lúc 13:30 ngày 13 tháng Mười và di chuyển vào khu vực hành quân ngay sau đó, đến điểm đóng quân phòng thủ đêm tọa tộ AR864076. Không ghi nhận có hoạt động của địch trong đêm, sáng ngày 14 tháng Mười, sau khi thâu hồi các toán phục kích đêm, tôi cho trung đội di chuyển về hướng đông, đến tọa độ AR867075. Suốt buổi sáng di chuyển, đến 12:30 chúng tôi nghe có tiếng cây bị đốn (chặt cây) về phiá bên phải lộ trình di chuyển. Sau khi lập tuyến phòng thủ tại tọa độ AR854067, tôi cho hai toán 5 người lên thám sát mục tiêu. Một toán sẽ thám sát về hướng tây, tây bắc khoảng 400 thước. Trường hợp toán thám sát chạm địch, cả trung đội sẽ di chuyển đến vị trí chạm súng. Nếu cả hai toán thám sát đều chạm súng, tất cả rút về tuyến phùng thủ trung đội.

Lúc 13:30, toán thám sát khu vực hướng tây bắc chạm súng với một đơn vị chính quy Bắc Việt (quân phục tốt, võ trang đầy đủ). Mới đầu, địch muốn chúng tôi sa vào bẫy giữa những vị trí súng đại liên bằng cách chỉ đưa ra những toán quân nhỏ, đi lẻ tẻ, sau đó dương ra lực lượng cấp lớn khoảng 300 quân như đe dọa sắp sửa tiêu diệt trung đội SMF. Địch quân không bắn trả đũa tiểu đội 4, tiếp tục di chuyển dọc theo bên hông vị trí đóng quân của trung đội SMF dàn quân tấn công. Tôi (viên sĩ quan trung đội trưởng) gọi pháo binh bắn yểm trợ vào căn cứ địch, và vào phiá tây tuyến phòng thủ trung đội, ngăn ngừa địch bao vây, tấn công. Quân Bắc Việt bắt đầu tấn công từ hướng bắc gây tổn thất tiểu đội 1, khi trực thăng võ trang lên yểm trợ, tôi cho tiểu đội này lui về phiá sau của trung đội. Để tránh bị tràn ngập (tiêu diệt) vởi một đơn vị cấp lớn của địch, tôi ra lệnh cho tiểu đội 4 nằm lại quấy rối, để trung đội có thêm thời gian rút về hướng đông cùng với thương binh. Trước hỏa lực mạnh mẽ của các trực thăng võ trang, địch quân cũng rút đi. Kết qủa trận đánh, phiá quân đội Bắc Việt để lại 2 xác chết, 1 bị thương (bị bắt), trung đội SMF 2 quân nhân tử trận, 5 bị thương và 3 mất tích.

21 tháng Mười – 27 tháng Mười: Trung đội 2 SMF hành quân thám sát trong tỉnh Pleiku từ ngày 23 đến ngày 25 tháng Mười năm 1972, lần này toán thám sát chạm địch cấp trung đội, kết qủa 1 tử trận, 2 bị thương (người dân tộc thiểu số), 1 quân nhân Hoa Kỳ bị thương nơi cánh tay, đưa về Mỹ điều trị. Khu vực thám sát nơi những rặng núi phiá tây thành phố Pleiku. Buổi chiều ngày 23, trung đội được lệnh di chuyển đến một khu vực hành quân mới, tình nghi vị trí đặt hỏa tiễn 122 ly. Tin tức từ người thiểu số cho biết, dân làng đã có cuộc họp với đại diện quân đội Bắc Việt hôm trước, nhưng không tìm thấy dấu vết của địch để lại. Sáng ngày 24, trung đội SMF di chuyển đến thám sát vị trí buổi họp có quân đội Bắc Việt cũng không tìm thấy dấu vết để lại. Sau đó trung đội di chuyển đến vị trí tình nghi đặt hỏa tiễn 122 ly. Vào xế chiều, trung đội SMF tìm thấy đường mòn mới từ hướng tây bắc xuống đông nam, viên trung đội trưởng quyết định bố trí qua đêm để sáng hôm sau lục soát.

Sáng hôm sau lúc 7:45 ngày 25 tháng Mười, cả ba tiểu đội từ vị trí đóng quân đêm di chuyển xuống theo sườn núi hướng tây nam. Khám phá thêm dấu vết đường mòn mới của địch, cả trung đội nghe tiếng cưa cây và trông thấy một ụ súng cao gần 2 thước ngụy trang dưới một cây lớn tại tọa độ ZA161518. Viên sĩ quan trung đội trưởng cho trung đội dàn hàng ngang tiến lên lục soát.

Hai phút sau, họ nghe tiếng địch quân nói chuyện, viên Trung Sĩ (trung đội phó) khai hỏa vào toán lính Bắc Việt giết chết 3, bị thương 1 người. Trung đội SMF nhìn thấy thêm 6 ụ súng và sau phút ngạc nhiên, quân Bắc Việt bắt đầu nổ súng. Hai bên bắn nhau với khoảng cách rất gần như cận chiến. Kết qủa khoảng 10 lính Bắc Việt chết, phiá đơn vị đặc nhiệm (SMF), binh sĩ người Thượng mang máy truyền tin trúng đạn tử trận, viên trung đội trường SMF và một binh sĩ bị thương. Cả trung đội SMF rút lui theo hướng tây nam, tránh xa vị trí đóng quân của địch, cho pháo binh và trực thăng võ trang bắn phá mục tiêu.

28 tháng Mười – 3 tháng Mười Một năm 1972:  Mức độ chiến trường gia tăng trong vùng phụ cận thành phố Pleiku, cả VNCH lẫn quân đội Bắc Việt đều cố gắng “dành dân lấn đất” trước khi hiệp định ngừng bắn Paris có hiệu lực. Không quân VNCH quá bận rộn nên đơn vị SMF không mở thêm các cuộc hành quân mới do thiếu vấn đề không yểm.

4 tháng Mười Một – 10 tháng Mười Một:  Đơn vị SMF nằm ứng chiến huấn luyện tại chỗ trong căn cứ, khẩu hiệu dùng tay, căn bản cứu thương và kỹ thuật phục kích. Ngày 7 tháng Mười Một 35 binh sĩ SMF cùng một cố vấn Hoa Kỳ bay về Đà Nẵng đến căn cứ Fay. Họ được trao nhiệm vụ bảo vệ căn cứ trong thời gian đơn vị SMSAD (nhóm cố vấn cho sở Công Tác) thu dọn trước khi về Hoa Kỳ. Trong thời gian này, nhóm cố vấn STDAT-158 được thông báo có sáu (6) vị trí phi cơ lâm nạn trong vùng phụ cận thành phố Pleiku, để cho cấp chỉ huy SMF chuẩn bị kế hoạch hành quân.

11 tháng Mười Một – 17 tháng Mười Một năm 1972:  Đơn vị hành quân đặc biệt (SMF) mở hai chuyến hành quân lục soát hai vị trí phi cơ lâm nạn theo lệnh của đơn vị Nhận Diện & Thâu Hồi Tử Thi (JPRC) trong Saigon. Nhiều bằng chứng cho thấy, JPRC không có đầy đủ tin tức về hai vụ này, bị rơi trong thời gian đầu cuộc chiến (khoảng 1964 – 1967). Theo kinh nghiệm tìm kiếm hai xác phi cơ bị rơi gần An Khê và phiá nam Pleiku cho biết rừng rậm (rừng nhiệt đới), cây cỏ, dây leo trong rừng mọc rất nhanh, gây khó khăn cho việc tìm kiếm và thâu hồi tử thi. Ngay cả việc cho toán biệt kích xâm nhập bộ vào khu vực đánh dấu phi cơ lâm nạn cũng khó khăn cho quân biệt kích. Tuy nhiên các toán biệt kích vẫn đem về nhiều tin tức quý giá để học hỏi, áp dụng: Sau khi được JPRC cho biết vị trí phi cơ lâm nạn, trưởng toán biệt kích nghiên cứu bản đồ đánh dấu vị trí, tìm những làng có dân cư ngụ (làng người Thượng) gần trong khu vực. Tùy theo độ rộng lớn của khu vực, cố gắng tìm nhiều làng mạc để thâu thập tin tức về vụ phi cơ rơi. Để được chính xác, đem theo người thông ngôn (người dân tộc điạ phương). Tất cả những tin tức thâu thập sẽ đem ra so sánh với tin tức do đơn vị JPRC cung cấp.

18 tháng Mười Một – 24 tháng Mười Một:  Đơn vị SMF mở cuộc hành quân thâu hồi tử thi 5 quân nhân đơn vị bị mất tích sau vụ chạm súng hôm 14 tháng Mười trong quận Phú Nhơn (phần trên). Trước khi cuộc hành quân bắt đầu, một người dân làng (người Thượng) báo cho vị cố vấn trưởng quận Phú Nhơn rằng ông ta biết chỗ hai xác binh sĩ người Thượng (SMF). Sĩ quan (ban 2) đơn vị SMF “làm việc” với người mật báo này và đem theo trong chuyến hành quân.  Họ tìm được hai tử thi nhưng không phải binh sĩ đơn vị SMF, một là lính Bắc Việt, xác kia là của một đơn vị VNCH. Khu vực này rừng rất rạp rạp, cỏ tranh (voi) cao hơn đầu người, rất khó di chuyển, quan sát nên đơn vị SMF chấm dứt cuộc hành quân. Họ làm kế hoạch trở lại khi được không yểm tốt hơn.

24 tháng Mười Một 1972 trở về sau: Có nhiều tin tức về một cuộc ngưng bắn (hiệp định Paris), đơn vị SMF giới hạn việc huấn luyện trong khu vực phiá nam Pleiku, họ tập luyện những bài học như phản ứng cấp thời (tao ngộ chiến), di chuyển đêm, vũ khí (của địch), điều chỉ pháo binh tác xạ. Sĩ quan tiếp liệu đơn vị (ban 4) thanh tra doanh trại, vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng để chuẩn bị bàn giao cho Nha Kỹ Thuật (VNCH) trước khi trở về Hoa Kỳ.

Trong thời gian này, SMF mở cuộc hành quân lục soát khu vực 15 cây số về phiá bắc thành phố Quy Nhơn, một phi cơ chiến đấu F-4 Phantom bị rơi năm 1966. Vị trí phi cơ lâm nạn chỉ có không ảnh để lại, chưa từng được tìm kiếm. Hai trung đội SMF được phi cơ C-130 đưa từ Pleiku đến Quy Nhơn, sau đó trực thăng đưa vào gần khu vực lục soát (phi cơ rơi). Ngày 21 tháng Mười Hai, hai trung đội vào đến mục tiêu, đóng quân đêm. Sáng hôm sau (22/12), một trung đội SMF làm thành phần an ninh cho trung đội kia vào tìm xác phi cơ. Kết quả không đem lại điều gì mới, kể cả bằng chứng về xác viên phi công F-4. Từ lời khai của một cựu binh sĩ Điạ Phương Quân VNCH cho biết hai viên phi công đã bị VC bắt đem đi, khi phi cơ lâm nạn.

BỐ CỤC
Sau khi đơn vị Hành Quân Đặc Biệt (SMF) được thành lập từ tám tháng trước, mục đích duy nhất của đơn vị này là sẵn sàng nhận tất cả mọi nhiệm vụ trao phó. Quân nhân SMF được huấn luyện hành quân trong mọi điều kiện về điạ thế, thời tiết. Sức chịu đựng bền bỉ của họ được thử thách, tinh thần chiến đấu cao để hoàn thành nhiệm vụ.

BAN CỐ VẤN ĐOÀN 68
TỔNG QUÁT
Trong thời gian từ tháng Năm 1972 đến tháng Hai năm 1973, ban cố vấn đoàn 68 có nhiệm vụ tổ chức các toán biệt kích (đặc biệt) cho chương trình Earth Angel (bao gồm hồi chánh viên) và Pike Hill (người Miên). Ngoài ra ban cố vấn đoàn 68 trợ giúp Nha Kỹ Thuật xây dựng chương trình Thăng Long. Đoàn 68 nằm trong căn cứ Nguyễn Cao Vĩ và ở Long Thành. Nhân viên (quân biệt kích) đoàn 68 được huấn luyện riêng biệt trong căn cứ ở Long Thành. Do tình trạng giảm quân để hồi hương, đến ngày 25 tháng Mười Một năm 1972, ban cố vấn đoàn 68 chỉ còn lại 1 sĩ quan và 1 hạ sĩ quan Hoa Kỳ.

HOẠT ĐỘNG
Các toán biệt kích Earth Angel bao gồm quân nhân Bắc Việt về hồi chánh (Chiêu Hồi) lấy tin tức tình báo tác chiến của các đơn vị chính quy Bắc Việt xâm nhập vào miền nam Việt Nam. Tất cả đều được huấn luyện để xâm nhập nhẩy dù, trực thăng và đường bộ. Vài người được tuyển chọn theo học khóa nhẩy dù điều khiển (HALO) để xâm nhập. Các toán biệt kích Earth Angel thường được trao nhiệm vụ thám sát đường mòn, sông rạch… Trong vài trường hợp họ được đưa vào thám sát, thẩm định các trận thả bom trong các hành quân Arclight do Kông Lực Hoa Kỳ đảm trách.

Các điệp viên Pike Hill bao gồm người Khmer (Miên), người Việt gốc Miên. Họ thiết lập những mạng lưới tình báo trong dân chúng người Miên trong vùng đông bắc Cambodia. Mỗi toán thường có ba, bốn người hoạt động trong khoảng thời gian kéo dài sáu tháng. Đôi khi các biệt kích Miên trong chương trình Pike Hill được đưa vào khu vực thả bom để thẩm định kết qủa.   
                                 
Phạm Hòa sưu tầm Vũ Đình Hiếu dịch thuật