Những bạn tù nào đã sống chung với các sĩ quan cao cấp đàn anh thường có niềm vui và nỗi buồn bất chợt. Vui khi thấy một đàn anh xứng đáng, đàng hoàng và chỉ một lời trách nhẹ của họ, chúng tôi cũng coi như một lệnh phải thi hành. Buồn khi thấy một đàn anh khúm núm một cách không cần thiết trước mặt những kẻ thắng trận. Số người này ít nên nỗi buồn cũng chỉ thoáng qua. Số giữ được tư cách vẫn rất nhiều và làm cho lớp đàn em chúng tôi vững tin.
Số phận chung của chúng tôi là khi vào trong trại tù, không người nào còn cấp bậc hay quyền hành để cư xử với nhau cho có trên có dưới. Nhưng trên dưới vẫn được tôn trọng căn cứ vào tư cách và nhân cách của các sĩ quan đàn anh cũng như đàn em. Không có được hai yếu tố vừa kể, đám tù chúng tôi rất dễ trở thành "những dây bìm bìm leo trên bờ dậu đổ". Chúng tôi hiểu rằng, nỗi đau của thất trận đã như vết dao chém trong tâm can chúng tôi, nếu lại thêm một vài đàn anh thiếu tư cách, thêm vài đàn em hỗn hào hèn nhát, cái vết thương ấy chảy máu nhiều hơn, không phương hàn gắn.
Những bạn tù của tôi, người Công giáo, nói rằng, anh cả Phan văn Huấn là người vác thánh giá cho lũ em. Mà quả thật đi chung với anh một đường, lòng thấy nhẹ đi, phơi phới hơn, tin tưởng hơn. Con đường khó cũng bớt khó. Dáng người cao, gầy (dĩ nhiên), nước da đen xanh (dĩ nhiên), nhưng đôi mắt sáng và nụ cười bao giờ cũng là đầu câu chuyện. Giọng Huế còn "chay" lúc nào cũng nhỏ nhẹ, ý nhị, cười vui vừa phải, anh cả dẫn chúng tôi vào những câu chuyện buồn vui đời lính của chính ông và các sĩ quan binh lính thuộc cấp. Những kỷ niệm ông nói ra là những bài học không lúc nào mất giá trị.
Trang phục của ông trong tù khi quay về với cái nóng ở phương nam là quần áo may bằng bao cát xám. Chuyện mưu sinh chứ không phải là mốt thời trang. Người nào từng là tù cải tạo ra Bắc hoặc xuôi Nam đều biết loại quần áo tù bền muôn thuở này. Lúc đầu được phát mỗi năm hai bộ quần áo trận của quân VNCH, nhưng túi và cầu vai bị xé hết. Thời gian sau, họ phát quần áo tù bằng vải thô có đóng dấu cải tạo sau lưng. Mồ hôi của lao động khổ sai có thể xé rách bất cứ loại quần áo nào. Phải vá thôi, nhưng vải đâu. Thấy loại bao cát xám hay bao cát màu olive đem về giặt đi để đắp đỡ lên những chỗ rách trên áo tù. Thấy loại bao cát xám, càng giặt đi càng mịn có thể may quần áo được, tha hồ bền nên vài người tù trở thành thợ may bất đắc dĩ. Chúng tôi không được giữ vật bén nhọn, nhưng tìm trong vài ba lô vẫn có được những mảnh thép quí, mài đi thành dao nhỏ, cắt bao cát thay kéo, mài những cộng sắt làm kim, chỉ thì rút từ chính những sợi từ những bao cát bằng ni lông, thế là có một bộ đồ "ăn chơi quá thú"
Anh cả Phan văn Huấn quanh năm suốt tháng mang trang phục rất "mốt" may bằng bao cát xám. Tôi để ý thấy ông còn giữ được bộ đồ trận tương đối tươm tất nhưng chỉ thấy ông mặc nó vào ngày 19 tháng 6. Ở những trại trước, chúng tôi tổ chức kỷ niệm 19 tháng 6 bằng một phút im lặng chào quốc kỳ và chào nhau kiểu nhà binh trước khi bọn cai tù mở cửa buồng giam điểm số để ra lao động. Ở trại Z-30A vào 3 năm cuối của thập niên 80, ngày Quân lực được tổ chức theo từng nhóm riêng. Tôi mang áo lính nhưng binh chủng của tôi lại là đạo quân phóng viên, biên tập viên của Hệ thống truyền thanh quốc gia, nên cả trại chỉ còn mình tôi. Phần lớn đồng nghiệp với tôi đã trở về sớm hơn, có đứa vào năm 1986 đã tốt nghiệp đại học ở Mỹ và làm lại cuộc đời rồi.
Anh cả Phan văn Huấn quí tôi nên thường mời tôi tham dự những bữa cơm đoàn kết cùng với một số các sĩ quan thuộc cấp của Biệt cách Dù, LLĐB cùng bị giam ở trại Z-30A. Ở đội rau xanh, tới giờ nghỉ giải lao, chúng tôi thường tụ tập hút với nhau điếu thuốc lào, nói dóc hay kiếm ếch nhái để "cải thiện". Riêng anh cả Huấn thì không nghỉ, anh dùng giờ giải lao để chăm bẵm một giàn mướp và vài bụi mồng tơi ở bên cạnh "lãnh thổ" của đội rau xanh. Viên cán bộ quản giáo, còn một chút hiểu biết, nên cũng dễ dãi cho phép tù "cải thiện". Mỗi đợt thu hoạch, anh Huấn hái về 5, 7 trái mướp vừa độ, vài nắm lá mồng tơi. Về trại anh chia đều cho những sĩ quan thuộc cấp.
Ngày chủ nhật, trại nghỉ lao động là dịp anh biểu diễn tài nấu nướng khi còn quà thăm nuôi. Anh mời hết đồng đội trong Biệt cách Dù có mặt ở trại và một vài vị tiền nhiệm của Liên đoàn 81/BCD. "Tiệc" chỉ là cơm gạo sấy, canh mồng tơi, mướp bỏ vào vài con tôm khô, chút bột ngọt, đôi khi có chút thịt kho mặn... Vậy mà thần tiên hơn bất cứ bữa tiệc nào mà tôi đã dự ở Hoa Kỳ này. Ăn xong, nhắp chút trà, hút với nhau vài điếu thuốc lào rồi chia tay, mỗi người có việc riêng của mình. Sau đó, anh lui cui rửa chén, bát, xếp lại "đồ nghề". Không ai trong số người dự được quyền làm công việc này thay anh. Có người tranh, anh nói: "Tôi là chủ nhà, các vị là khách". Khi nghe anh đổi ngôi thứ một cách trịnh trọng, chúng tôi hiểu là anh cương quyết giữ một hình ảnh: bây giờ không còn là thượng cấp và thuộc cấp nữa mà là tình chiến hữu, huynh đệ chi binh nặng hơn. Cũng chính vì chỉ còn tình cảm này mà khi anh than phiền nhẹ nhàng một điều gì đó, chúng tôi hiểu rằng, anh ra lệnh "các cậu đừng... như thế nữa". Tôi nghĩ rằng, tư cách đàn anh của anh lúc đó mạnh và có ảnh hưởng hơn những lúc anh còn binh quyền.
Có một lần vào ngày đầu tuần lễ, tôi bị bệnh được cho nghỉ nằm nhà. Anh Huấn được gọi ra thăm gặp gia đình. Bốn mươi phút sau, anh cả trở vào gọi tôi sang và dúi vào tay tôi những tờ giấy gói hàng. Ðó là những tờ báo của tờ Tuổi Trẻ mà gia đình khéo léo bọc ngoài những món đồ khô. Chúng tôi tập họp lại thành một số báo để đọc cho đỡ ghiền, vì ngay từ thời đó, tờ báo này vẫn là thứ cấm được mang vào trại. Giỏ quà thăm nuôi của anh gồm rất nhiều gói nho nhỏ, mỗi thứ một chút: một ít mắm ruốc kho với tóp mỡ, chút ít cá khô chà bông, ít mì vụn, một hũ nhỏ nước mắm kho quẹt, ít thịt heo băm nhỏ rim mặn, ít ruốc xả theo kiểu Huế... Phía trong mỗi gói đều có một mảnh giấy với vài hàng chữ. Anh cho tôi đọc một lá thư, ngắn ngủi nhưng chứa đựng một tấm lòng thương kính của gia đình quả phụ tử sĩ đối với anh. Chỉ đọc lá thư đầu để trong một gói mắm ruốc kho với tóp mỡ, nước mắt tôi đã trào ra. Chữ nguệch ngoạc bằng bút chì trên một miếng giấy kẻ ô đã vàng xé ở đâu đó: "... Gia đình em, cha mẹ của cố Binh nhất... kính thăm Đại tá. Chỉ có chút quà nhỏ do lòng thành của gia đình gởi biếu Đại tá dùng lấy thảo. Vẫn nhớ Đại tá và mong Đại tá khỏe mạnh, sớm về với gia đình..."
Tôi tiếc là không thể nhớ hết được nội dung của những lá thư ngắn ngủi kèm theo gói nhỏ đạm bạc nhưng đầy ắp tình thương và quí mến của gia đình tử sĩ Liên đoàn 81/BCD, dù rằng, vào lúc đó đại gia đình này đã tan đàn, xẻ nghé. Trường hợp như người anh cả của gia đình Biệt cách Dù không phải là số nhiều. Nó chứng tỏ rằng, trong thời chiến, cựu Ðại tá Phan văn Huấn đã hành xử đúng vai trò người anh cả trong một đại đơn vị chiến tích lẫy lừng ấy. Trận mạc gan lì nhưng trái tim ông đầy lòng nhân ái, sống gắn bó với những người lính của mình, chia xẻ những mất mát không gì bù đắp được của các gia đình tử sĩ, cô nhi quả phụ.
Trong trại, chưa bao giờ anh cả Huấn là một người tỏ ra giận dữ về những trò hành hạ của người thắng trận đối với cá nhân anh. Anh nói: "Họ thắng thì muốn nói gì, muốn làm gì cũng được, có sao đâu mà phải giận dữ. Hãy cố gắng chia xẻ với nhau những khốn khó và đứng thẳng lưng. Chúng ta sẽ thua trận cuối cùng này nếu chúng ta cúi đầu vì những trò hành hạ của họ". Lời lẽ anh giản dị, nhưng trong đêm khuya thanh vắng, nằm trong buồng giam nghĩ lại thấy thấm thía nhưng có "chất" để cho niềm tin vào chính nghĩa lớn hơn.
Anh cả được trở về với gia đình sau tôi vài tháng. Một người họ hàng với mẹ tôi là phụ huynh của một thương binh trước đây là lính của anh cho tôi biết, anh sống khó khăn và việc tìm cách đến thăm có thể làm cho mối hoài nghi của bọn công an phường gia tăng thêm. "Cậu đến thăm chắc ông ấy vui lắm, nhưng chị thấy là nên tránh cho ông ấy". Bà chị họ tôi nói như vậy. Tôi đi định cư ở Mỹ trước anh cả Huấn. Cơm áo nặng nề quá trong những năm mới tới không cho tôi nhiều thời gian nghĩ ngợi về chuyện tù đày. Rồi một hôm, đang ngồi làm việc ở tòa soạn của nhật báo Viễn Ðông của anh Nguyễn Ðức Quang, thì anh cả Huấn đẩy cửa bước vào. Tôi nhận ra anh ngay và chào kính. Vẫn nụ cười, anh cho tôi biết qua về đời sống hiện tại của anh ở Mỹ. Anh nói: "Lớn tuổi rồi, nhưng anh vẫn Ok. Có chuyện này nhờ Ánh". Chuyện anh nhờ thực ra anh không cần nhờ, tôi cũng có bổn phận phải làm. Ðó là một thư mời họp mặt Gia đình 81/BCD - LLĐB. Anh cả Huấn nói: "Bây giờ anh ngồi nhà, làm công việc kêu gọi anh em ở đây trợ giúp những người trong Gia đình 81 còn kẹt và gia đình quả phụ tử sĩ. Khó đấy, nhưng cố gắng tới đâu hay tới đó". Tôi được hân hạnh tham dự họp mặt của Gia đình 81/BCD, nhưng các lần sau đó thì không còn cơ hội. Năm nay, một phụ tá của anh cả Huấn đến đưa một thiệp mời và bản mới in của tuyển tập Ðời chiến binh mấy ngày trước chủ nhật 8 tháng 7. Tôi kẹt trong ngày này ở một nơi ngoài quận Cam thành thử không đến chào kính anh và các vị cựu sĩ quan Biệt cách Dù từng cùng anh vào sinh ra tử suốt trong cuộc chiến dài đằng đẵng cũng như đã từng chia xẻ với anh những nhọc nhằn trong những trại giam.
Tuyển tập Ðời chiến binh dày tới 539 trang, bìa rất đẹp với hình bìa sau là hình chụp nghĩa trang Biệt cách Dù tại An Lộc năm 1972 với đề chữ "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Nhưng thực ra, nổi nhất ở khu nghĩa trang này là chữ đề của một nữ giáo chức:
An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt cách Dù vị quốc vong thân
Việc hình thành khu nghĩa trang này là cả một lịch sử được viết bằng máu và tình huynh đệ tương thân. Chúng ta hãy đọc một đoạn trích từ bút ký Nhớ về An Lộc dưới bức hình:
"Ðây là nghĩa trang Biệt cách Dù trong thị xã An Lộc, với những ngôi mộ mà chúng tôi đã đắp lên cho bạn bè bằng tất cả tình huynh đệ thân thương... Có những đêm mưa tầm tã, lẫn lộn với pháo rơi, chúng tôi đã phải mò mẫm từng tấc đất trong bóng đêm để bới những cái hố nhỏ chôn mình tránh pháo rồi mới đào những huyệt lớn để chôn xác bạn bè sau đó..."
Ðọc Ðời chiến binh, chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh của những cây tùng trước bão tự thân kể lại những kỷ niệm của thời chinh chiến. Mà nói đến chinh chiến thì có được có thua. Nhưng khi đọc lại những kỷ niệm của những người lính trận Biệt cách Dù, chúng ta sẽ thấy rằng, được thua đều có những cách nhìn khác nhau, nhưng Tổ quốc, Danh dự và Trách nhiệm chỉ có một cách để diễn tả.
Trước khi đọc Ðời chiến binh, tôi đã đọc Cây tùng trước bão của nhà văn Hoàng Khởi Phong nhiều lần. Nhưng đoạn văn ngắn tạo cho tôi một ấn tượng mạnh nhất vẫn là đoạn tôi xin phép được trích thuật dưới đây:
"Trong ánh sáng và bóng tối của một ngày vừa tàn và đêm đang tới, tôi mơ hồ nhìn thấy ông trong bộ quân phục. Cái mũ kết trên đầu ông có một cái khiên và trong cái khiên này, tôi nhớ có hình chạm nổi của một con chim Đại bàng và một hàng chữ: Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm. Ðó là 3 tín niệm mà một sĩ quan phải đội ở trên đầu. Không hiểu xưa kia và bây giờ, trong chúng ta đã có bao nhiêu người còn nhớ? Bao nhiêu người đã quên? Qua kính chiếu hậu, tôi nhìn thấy ông trở vào trong nhà. Lưng thật thẳng, mặt ngước cao, ông có dáng của một cây tùng chẳng cong lưng khi gặp bão"
Vâng, đó chính là hình ảnh đích thực của anh cả Phan văn Huấn và những đồng đội của anh trong Gia đình 81/BCD - LLĐB. Tới nay, dù tuổi đã cao, họ vẫn sống như những người lính đích thực của thời trận mạc.
No comments:
Post a Comment