Wednesday, January 13, 2021

MỤC TIÊU OSCAR EIGHT (O-8)

 Họ Tên: Stephen Paul Hanson

Cấp bậc / Quân chủng: Thiếu Tá / TQLC

Đơn vị: HMM 165, đoàn 36 Không Trợ TQLC

Ngày sinh: 04-01-1940

Quê quán: Burbank, California

Ngày tổn thất: 03-06-1967

Quốc gia: Lào

Tọa độ nơi tổn thất: 161914N 1064049E (XD795050)

Tình trạng năm 1973: Mất tích

Phân loại: 2

Phi cơ/Tầu bè/Xe cộ: Trực thăng CH46A “Sea Knight”

Người khác trong tổn thất: Timothy R. Bodden, Ronald J. Dexter, John G. Gardner và Billy Laney (tất cả đều mất tích), Ông Ky và Charles F. Wilklow (được cứu), Frank E. Cius (trao trả tù binh)

Loại trực thăng CH46 “Sea Knight” do Boeing-Vertol sản xuất được đưa sang vùng Đông Nam Á châu ngày 8 tháng Ba năm 1966, phục vụ trong quân chủng TQLC/HK cho đến khi quân đội Hoa Kỳ về nước. CH46 có ba hoặc bốn phi hành đoàn tùy nhiệm vụ chuyến bay. Loại trực thăng này có thể chở 24 quân nhân trang bị đầy đủ hoặc 4600 cân Anh hàng hóa, được xử dụng chuyên chở binh sĩ TQLC/HK và đồ tiếp liệu trong miền nam Việt Nam.

Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (MACV-SOG) là một đơn vị hỗn hợp bao gồm các quân binh chủng trong quân đội Hoa Kỳ cho chiến tranh ngoại lệ, bí mật trong vùng Đông Nam Á. Liên đoàn 5 LLĐB/HK cung cấp người cho đơn vị SOG qua chương trình Hành Quân Đặc Biệt Mở Rộng (SOA) để ngụy tạo cho các quân nhân này trong thời gian biệt phái cho đơn vị SOG. Các toán biệt kích SOG thực hiện các công tác bí mật, xâm nhập sâu vào vùng địch kiểm soát, dò thám thâu thập tin tức tình báo chiến lược.

Mục tiêu Oscar-8 (O-8) là danh hiệu cho một khu vực hướng đông nước Lào, trong tỉnh Savanakhet, rừng núi rậm rạp, cách thung lũng “nổi tiếng” A Shau 25 dặm về hướng tây bắc. Khu vực này bao gồm giao điểm giữa đường 92, con đường huyết mạch chính trong hệ thống đường mòn HCM và đường 922, tách ra đi về hướng miền nam Việt Nam đến đầu hướng bắc thung lũng A Shau. Mục tiêu Oscar-8 nằm nơi hướng đông nam cánh rừng lớn che phủ thung lũng với hai con đường chạy xuyên qua, mỗi bên một đường. Đường 92 chạy dọc theo phiá tây và đường 919 theo phiá đông thung lũng. Một đường dây điện chạy song song với đường 92, thỉnh thoảng cắt ngang. Sông Hội An cũng chẩy qua thung lũng, băng qua giao điểm của hai con đường, cách chừng một dặm về hướng tây.

Nhiều phi cơ Hoa Kỳ bị rơi trong khu vực này hơn bất cứ nơi nào khác trên đất Lào. Lý do có bộ chỉ huy tiền phương của Tướng Võ Bầm, đoàn vận tải 559 đào sâu trong các ngọn đồi khu vực Oscar-8. Đó cũng là nơi theo dõi, chỉ huy các hoạt động trên đường mòn HCM, và có nhiều kho hàng, kho tiếp vận, căn cứ của quân đội Bắc Việt. Mục tiêu Oscar-8 được bảo vệ bới nhiều vòng đai súng phòng không đủ loại, ngụy trang rất cẩn thận. Thêm một lợi thế nữa, Oscar-8 chỉ có một khoảng đất trống cho trực thăng đáp nằm dưới đáy thung lũng, xung quanh có rừng cây che phủ, súng phòng không, pháo đài trên một độ cao, nằm trên sườn đồi.

Một trận tấn công lớn vào mục tiêu Oscar-8 xẩy ra ngày 2 tháng Sáu năm 1967, mở đầu với 9 phi cơ B-52 trải thảm bom. Sau khi làn khói, bụi tan đi, 9 trực thăng Kingbee phi đoàn 219 Không quân VNCH cùng với 5 trực thăng CH46 TQLC/HK đưa một đại đội Khai Thác (Hatchet Forces), biệt kích quân người Nùng với cố vấn Hoa Kỳ vào lục soát. Các quân nhân LLĐB/HK đi theo gồm có các Trung Sĩ Nhất Billy R. Laney, Ronald J. “Ron” Dexter, và Charles F. “Charlie” Wilklow.

Đại đội Khai Thác khoảng 100 quân biệt kích vừa được trực thăng đưa vào đã bị một quân số đông đảo chính quy Bắc Việt bao bây. Họ phải chạy lại những hố bom tránh đạn, gọi các phi tuần trực thăng võ trang, khu trục, phản lực yểm trợ. Giữa lòng thung lũng, quân biệt kích cố thủ trong các hố bom, không đủ sức mở cuộc phản công. Tình thế trở nên nguy ngập, trận đánh vẫn tiếp tục kéo dài từ buổi chiều cho đến tối, suốt đêm.

Rạng sáng hôm sau, ngày 3 tháng Sáu, hợp đoàn trực thăng được các phi cơ khác hộ tống cất cánh từ Khe Sanh, bay vào “triệt xuất” đại đội Khai Thác. Trong suốt thời gian phi vụ cấp cứu, các phi tuần khu trục A-1 Skyraider VNCH, phản lực của Hoa Kỳ thay phiên nhau bay vào thả bom, bắn hỏa tiễn, đại liên để yểm trợ cho cuộc triệt xuất. Hỏa lực phòng không Bắc Việt bắn lên dữ dội, rơi bốn phi cơ Hoa Kỳ: 1 khu trục A-1, 1 phản lực F-4 Phantom (Con Ma) và 2 trực thăng võ trang. Tất cả các phi công rớt máy bay, nhẩy dù ra và được cứu thoát, ngoại trừ phi công lái khu trục A-1E, Trung Tá Lewis M. Robinson, ông ta bị kẹt (?) không “bắn” dù ra được, đâm xuống khu rừng phiá nam cách bãi chiến trường khoảng 5 dặm. Trung Tá Robinson được báo cáo tử trận/không thâu hồi được xác.

Cuối cùng một trực thăng CH46 “Sea Knight” TQLC/HK đáp được xuống giữa các hố bom, mặc dầu bị trúng nhiều đạn súng trường, AK-47 vẫn “bốc” được một trung đội biệt kích quân Nùng, trong đó có Ông Kỳ, người chỉ huy phiá VNCH. Chiếc CH46 thứ hai, số thứ tự (150955), danh hiệu “Shark 03” xuống được bãi đáp do phi công Đại Úy Steven P. Hanson, phi công phụ Trung Úy John G. Gardner, Trung Sĩ cơ khí Timothy R. “Tim” Bodden và Hạ Sĩ xạ thủ đại liên Frank E. Cius. Ba quân nhân biệt kích Hoa Kỳ, Billy Laney, Ron Dexter, Charlie Wilklow cùng hơn hai mươi biệt kích Nùng leo lên trực thăng. Lính Bắc Việt bắn vào chiếc trực thăng dữ dội, trúng một trong hai phi công làm chiếc trực thăng mất thăng bằng, không kiểm soát được, chém vào cành cây, rơi từ cao độ 100 bộ (khoảng 20 mét) xuống, gẫy làm đôi cách bãi đáp khoảng 350 mét.

Lính biệt kích Nùng chết, bị thương nằm rải rác khắp nơi. Trực thăng cấp cứu nhìn thấy  quân nhân sống sót xung quanh hoặc gần xác chiếc trực thăng, nhưng không xuống được vì hỏa lực phòng không của địch. Ba biệt kích Nùng chạy trở lại bãi đáp và được trực thăng vào cứu cùng những quân nhân sống sót ngày hôm sau. Quân nhân Hoa Kỳ được cứu duy nhất trong trực thăng “Shark 03” là Charlie Wilklow, anh ta kể lại…

Khi chiếc trực thăng rơi xuống đất, Wilklow nhin xung quanh, Billy Laney nằm trên sàn trực thăng cùng viên cơ khí TQLC Tim Bodden. Trung Sĩ Laney đã bị trúng đạn vào ngực trước khi leo lên trực thăng, có thể anh ta bị sái chân, Bodden bị gẫy xương sống. Bất ngờ, xạ thủ đại liên Frank Cius bị trúng đạn vào đầu gục xuống khẩu đại liên. Trung Sĩ Wilklow bị trúng đạn vào chân phải, lăn ra khỏi trực thăng. Đại Úy phi công Hanson đang ở bên ngoài, ông ta nói phải vào lấy món đồ gì đó trong chiếc trực thăng. Wilklow cố gắng bò ra khỏi khu vực, bị mất máu nhiều, kiệt sức anh ta nằm ngửa mặt lên trời. Trước mắt Wilklow là một người lính Bắc Việt đang nhìn xuống anh ta từ một vị trí súng đại liên phòng không 12,7 ly cao khoảng 60 bộ (gần 20 mét). Wilklow nhận thức rằng mình đã bò vào căn cứ của địch với những ổ súng và lính Bắc Việt ở khắp nơi.

Trung Sĩ Charles Wilklow tin rằng mình sẽ bị bắt, nhưng lính Bắc Việt nhìn thấy anh ta đã bị thương, nên chỉ đi ngang qua. Sau đó Wilklow ngất đi. Khi anh ta tỉnh dậy, thấy túi “mưu sinh” của mình bị mất, và “được” lôi ra một khoảng đất trống, bên cạnh là tấm pano phản chiếu ánh sáng cho phi cơ Hoa Kỳ trông thấy và lính Bắc Việt đã bố trí khúng phòng không để bắn nếu có trực thăng xuống cứu tôi. Sau đó Wilklow lại ngất đi.

Qua ngày hôm sau, có trận mưa kéo dài cả giờ đồng hồ, Charles Wilklow lấy lại sức phần nào, ngày hôm sau nữa anh ta khám phá rằng viết thương nơi chân phải đã có giòi trông ghê gớm. Đêm đó lợi dụng không ai canh giữ, để ý, Wilklow bò lết đi. Đến sáng ngày hôm sau, anh ta đã bò ra khỏi căn cứ của địch khoảng hai cây số, sau đó một phi cơ FAC bay bao vùng tìm kiếm quân nhân mất tích trông thấy, gọi trực thăng đến cứu. 

Trung Sĩ Nhất Ron Dexter là người duy nhất chạy ra khỏi chiếc trực thăng không bị thương. Trước hỏa lực dữ dội của địch nơi mục tiêu Oscar-8, cuộc tìm kiếm, cấp cứu chấm dứt. Tim Bodden, Ron Dexter, John Gardner, Billy Laney, Frank Cius, và Stephen Hanson được báo cáo mất tích.

Hạ Sĩ Frank Cius bị bắt sống, đưa từ Lào ra miền bắc Việt Nam, và được trao trả tù binh ngày 5 tháng Ba năm 1973. Khi trở về Frank Cius kể rằng, anh ta bị thương nơi đầu, Ronald Dexter cũng bị bắt nhưng chết ngày 29 tháng Bẩy năm 1967.

Năm 1996, một đoàn tìm kiếm quân nhân mất tích đến tỉnh Savanakhet để tìm kiếm, họ được dân điạ phương đưa đến vị trí chiếc trực thăng lâm nạn năm xưa. Toán tìm kiếm đào thử một hố, tìm được mảnh xương vụn, răng và một tấm thẻ bài của Đại Úy Steven Hanson. Đến tháng Hai năm 1999, toán tìm kiếm quay trở lại đào thêm được mảnh xương, răng, vài món đồ vật của phi hành đoàn trực thăng. Tháng Sáu cùng năm, họ trở lại đào thêm được xương người đưa sang Phòng Thí Nghiệm Trung Tâm Nhận Diện ở Hawaii để khám nghiệm.

Ngày 14 tháng Tám năm 1999, phòng thí nghiệm báo cáo kết qủa như sau: Steven Hanson (răng), John Gardner (răng), Billy Laney (răng, xương cánh tay). Không tìm thấy bằng chứng của Tim Bodden. Những mảnh xương khác của biệt kích Nùng. Những di vật đó được trao trả về cho thân nhân tử sĩ để mai táng. Ngày 29 tháng Chín năm 2000, một lễ an táng cho tất cả các quân nhân tử trận trên chiếc trực thăng CH46 trong nghiã trang quốc gia Arlington.

American University of Nigeria

Computer Science Department

vđh

Monday, January 4, 2021

Y Sĩ Biệt Kích Dù Lôi Hổ (Nha Kỹ Thuật /Tổng Tham Mưu Kon Tum - Mùa Hè Đỏ Lửa.)

(Tưởng nhớ hương hồn Y Sĩ Trung Tá Bửu Trí, Trung Úy Sĩ Quan Trợ Y Ngọc.)
Tôi tuy thuộc vào hạng nhỏ con và thường bị bạn bè gọi là “Sữa” nhưng lại rất thích binh chủng Nhảy Dù. Thường mơ ước rằng khi ra trường sẽ là một Y Sĩ Nhảy Dù. Đọc truyện Y Sĩ Tiền Tuyến của Bác Sĩ Trang Châu tôi lại càng thêm mơ mộng. Tôi thích đi nhảy dù vì thích bận đồ rằn ri, đội nón đỏ, có huy hiệu nhảy dù trên ngực áo. Thấy các quân nhân Nhảy Dù chiều thứ 7 dạo phố với các nữ sinh thật là thơ mộng.
Cũng vì thích màu áo  mà  tôi  sém  chút  nữa là hòm gỗ cài hoa! Tuổi trẻ có những tư tưởng lạ lùng mà sau nầy về già suy nghĩ lại mới biết sợ, không nên “giỡn mặt tử thần,” đúng  là  “Chưa  thấy  quan  tài  chưa  đổ  lệ.”
Tôi nhập ngũ vào cuối năm 1971 khóa 13 Y sĩ trưng tập thụ huấn quân sự tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong thời gian này, thỉnh thoảng  có một số Y Sĩ Nhảy Dù về thăm các bạn YK Sài Gòn. Ôi nón đỏ, bộ đồ trận rằn ri, trông thật là oai phong lẫm liệt. Tôi thầm hy vọng  là khi chọn nhiệm sở sẽ có 1, 2 chỗ Nhảy Dù. Rồi thời gian thụ huấn quân sự và Hành Chánh Quân Y cũng trôi qua và ngày chọn nhiệm sở cũng đến. Các bạn Dược Sĩ Trưng tập được chọn nhiệm sở trước Y Sĩ trưng tập 2 ngày. Tình cờ tôi gặp Dược Sĩ Sơn cùng khóa 13. Anh cho biết là anh chọn Nha Kỹ Thuật/TTM.
Sơn cho tôi biết là Nha Kỹ Thuật đồn trú ở Phú Thọ Sài Gòn. Khi tôi nói là tôi chỉ thích đi Nhảy Dù thì Sơn nói đây cũng là Nhảy Dù Lôi Hổ, tôi hỏi thêm chi tiết và có ý định chọn NKT.
Đến ngày chọn đơn vị tôi nhìn lên bảng đen thì thấy có một chỗ NKT và một chỗ Sư Đoàn Nhảy Dù và tôi được xếp hạng 16 trong số gần 100 Y Sĩ trưng tập. Tôi không hề để ý đến các chỗ như Tổng Y viện, Quân Y Viện hay Bệnh Viện Dã Chiến, Bệnh Viện Tiểu Khu mà chỉ cầu mong là đến phiên mình chọn đơn vị sẽ còn có NKT hay Sư Đoàn Nhảy dù.
May thay, các bạn trước tôi chỉ lo chọn QYV, TYV, hay BVTK, đến phiên  tôi vẫn còn chỗ NKT. Tôi vội vã chọn NKT sau khi được Y Sĩ  Đại  Tá  Châu  xác nhận là có nhảy dù ở NKT.  Thế là    tôi đi mua ngay nón đỏ và bộ đồ rằn ri.
NKT/TTM là danh xưng ngụy trang của một đơn vị gọi là Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ, ngang hàng cấp Sư đoàn Tổng Trừ bị với cấp số Thiếu Tướng làm Tư Lệnh. NKT gồm nhiều đơn vị khác nhau nhưng trong phạm vi bài viết này tôi chỉ nêu ra hai đơn vị quan trọng nhất đó là:

Hình lấy từ Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y số tháng 5,6 năm 2019

1. Sở Liên Lạc (Lôi Hổ):Bộ Chỉ Huy đồn trú tạiSàigòn, gồm 3 Chiến đoàn Xung kích1,2,3.
2. Sở Công Tác (Hắc Long): Bộ Chỉ Huy đồn trú tại Sơn Trà, Đà Nẵng gồm 5 Đoàn Công Tác 11,68,71,72,75. Các Chiến Đoàn Xung Kích và Các Đoàn Công Tác có nhiệm vụ thả Toán thám sát vào  các mật khu Cộng Sản để thâu thập tin  tức tình báo, phá hoại các mục tiêu trọng yếu của địch. Trước năm 1970, nhiều Toán Thảm Sát Đặc Biệt Xâm nhập Bắc Việt bằng không vận hay hải vận để do thám.

Vào thời tôi được tăng phái đến NKT thì các toán chỉ hoạt động ở miền Nam mà thôi. Mỗi Toán có khoảng 6 người được trang bị vũ khí đến tận răng. Các hoạt động của NKT được giữ bí mật cho nên nhiều khi các quân nhân phục vụ trong NKT cũng không biết nhiệm vụ của các đơn vị bạn.

NKT có một Đại đội Quân Y đóng tại Phú Thọ Chợ Lớn, Y Sĩ Thiếu Tá Bửu Trí làm Y Sĩ Trưởng. Ngày tôi về trình diện thì ĐĐQY gồm có Bác Sĩ Trí, BS Ân, BS Nguyễn Văn Hưng và tôi. Ngoài ra còn có 4 Dược Sĩ, 2 Nha Sĩ, và 4 Sĩ Quan Trợ Y. Bác Sĩ Trí gốc Huế, người Hoàng Tộc rất hiền lành dễ thương, luôn bảo vệ và che chở cho đàn em, được sự quý mến và kính nể của thuộc cấp.

Sau khi trình diện đơn vị, tôi đi học nhảy dù ở trung tâm Long Thành, nhảy chuồng cu ở trại Hoàng Hoa Thám SĐND, 3 tuần huấn nhục “thích chạy bộ hơn đi bộ,” tôi được cấp bằng nhảy dù Việt Nam và Mỹ. Tôi rất thích nhảy Chuồng Cu, xin nhảy nhiều lần. Thật ra có một số quân nhân không dám nhảy chuồng cu, huấn luyện viên phải đẩy ra giùm, nếu sau 3 lần mà không dám tự động nhảy thì sẽ bị loại.

Cảm giác nhảy ra khỏi máy bay C130 của không quân Mỹ, rơi tự do khoảng 5 giây, rồi sau đó dù bung ra, một mình bay lơ lửng giữa trời thật là tuyệt diệu. Một mình ta lơ lửng giữa trời mây! Làm việc ở Sài Gòn được vài tháng thì Mùa Hè Đỏ Lửa xảy ra. Chiến trận Bình Long, QuảngTrị ác liệt, máu lửa. Cuối tháng 3, 1972, Y Sĩ Thiếu Tá Bửu Trí cho tôi biết là tình hình chiến sự ở Kontum gia tăng và sẽ tăng phái tôi lên Chiến Đoàn 2 Xung Kích Lôi Hổ ở Kontum. Thế là tôi khăn gói lên đường ngay.

Chiếc máy bay C46 của Air America vừa hạ cánh xuống phi trường Kon Tum thì bị pháo kích lập tức. Có một số thương vong nhưng tôi may mắn OK. Trung úy Niệm, Sĩ Quan Trợ Y chở tôi về doanh trại CD2XK ở B12 phía Nam của Kontum. Vừa đến Bệnh Xá thì thấy các cố vấn Hoa Kỳ đang thu dọn để lên đường ra khỏi Kontum vì tình hình rất nguy hiểm. Họ để lại cho tôi toàn bộ thuốc men và thực phẩm. Mấy ngày đầu tôi lo tổ chức bệnh xá để tiếp nhận thương bệnh binh. Lúc rảnh rỗi thì lái xe đi thăm Kontum. Thành phố nầy lúc đó còn tương đối yên tĩnh, cát trắng, có sông Dak bla nước rất trong nhưng chảy ngược? Xung quanh là núi non, thành phố nằm ngay ở lòng chảo, rất dễ bị pháo kích, trông giống như Điện Biên Phủ ngày xưa.
Thành phố nói chung rất đẹp. Kontum chỉ có một con đường độc nhất đi Pleiku về phía Nam, Quốc lộ 14, nhưng phải qua đèo Chu Pao thường hay bị Cộng Sản phục kích và đóng chốt nên chỉ có thể đi thoát bằng máy bay mà thôi.
Hàng ngày tôi khám bệnh cho quân nhân và gia đình, cấp thuộc hành quân, huấn luyện cấp cứu cho Y Tá , dân sự vụ khám bệnh cho người thiểu số ở buôn Thượng. Người dân ở đây rất đỗi hiền lành. Họ mời tôi uống rượu cần, nhưng tôi không thích uống rượu, chỉ nhấm nháp lấy lệ mà thôi. Tất cả chúng tôi đều phải học cách xử dụng và thực tập bắn súng chống xe tăng M72.
Tôi quen thân với nhiều sĩ quan Không Quân, họ cho tôi làm Co-pilot đi rước toán khi công tác về. Mỗi lần rước có 2 trực thăng UH1B và 2 gunship. Bay vòng vòng một lúc thì thấy panel của toán ở dưới bìa rừng. Thế là chiếc UH1B vội vàng nhào xuống để rước toán, trong khi gunships chúc lên chúc xuống sẵn sàng bắn che cho toán. Viên sĩ quan ban 3 khuyên tôi đừng có chơi dại như vậy, vì lỡ người pilot chính bị thương hay chết thì làm sao tôi lái máy bay một mình được, tính mạng tôi sẽ coi như hui nhị tì.
Pháo kích của Cộng Quân xảy ra thường xuyên, cứ 2, 3 đêm một lần. Bị thương nhẹ thì tụi tôi săn sóc tại chỗ, nặng thì gửi đi Bệnh Viện Tiểu Khu hay Quân Y Viện. Chuyện cười ra nước mắt là một đêm kia, khoảng 10 giờ tối, tôi nghe một tiếng nổ lớn rồi sau đó có tiếng lính gọi: Bác sĩ ơi, có một con bò đạp mìn ở hàng rào phòng thủ, đùi của nó bị bay vào ngay trại, chúng ta sẽ có thịt bò ăn rồi, nhưng sau đó xem lại té ra là thịt người, có lẽ của trinh sát hay đặc công Cộng sản! Có khi buổi tối tôi phải đi đỡ đẻ. Có lúc có người tự tử... Công việc tương đối nhàn.

Lực lượng phòng thủ Kontum chỉ có sư đoàn 22BB, gồm 2 trung  đoàn  và Bộ Tham mưu Sư Đoàn được dời lên Tân Cảnh để giao chiến với sư đoàn 320 và sư đoàn 2 của CS Bắc Việt. Quân Đoàn II được tăng cường thêm Biệt Động Quân  để  củng cố vững chắc đồn  Ben  Het,  cửa  ngõ đi vào lãnh thổ QĐ II, Quân Khu II.

Đại Tá Lê Đức Đạt Tư Lệnh SD 22  làm Tư Lệnh Mặt trận Tân Cảnh  được một tuần lễ thì địch bắt đầu tấn công lẻ  tẻ. Đại Tướng Cao Văn Viên liền tăng phái cho Đại Tá Đạt một Lữ  Đoàn Dù.

Ngày 04/14/1972 CS tấn công vào căn cứ Charlie. Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 11 Nhảy Dù bị một hỏa tiễn 122 trúng vào hầm chỉ huy làm ông tử trận. (Bài hát Người ở lại Charlie của TrầnThiện Thanh) và quân ta phải rút ra khỏi Charlie.

Ngày 04/20/1972 Đại Tướng Viên rút Lữ Đoàn Dù tại Kontum để tăng cường cho mặt trận Quảng Trị nên tình hình tại Tân Cảnh bắt đầu đen tối thêm. Tôi nhìn Lữ Đoàn Dù rút đi mà cảm thấy tê tái vì Kontum không còn lực lượng Tổng Trừ Bị nào nữa, chỉ còn sư đoàn 22 mà thôi. Tất cả Sư đoàn Nhảy Dù và TQLC đều dành riêng cho Quảng Trị và Bình Long. Kontum chỉ vào hàng thứ yếu, không quan trọng bằng hai mặt trận kia?

Ngày 04/23/72 mất  Dakto rồi Ben Het. Ngày 04/24/1972 mất Tân Cảnh,  Đại Tá  Đạt mất  tích hay tự sát?

Trong bài viết về Mặt Trận Tân Cảnh, Kontum1972, Đại Tá Trịnh Tiếu cho biết Tư Lệnh Quân Đoàn II, Trung Tướng Ngô Dzu và cố vấn Hoa Kỳ John Paul Vann có kế hoạch dụ sư đoàn 320 CS Bắc Việt vào vùng Tân Cảnh, Dakto để tiêu diệt bằng B52. Rất tiếc là vì có bất đồng ý kiến giữa Tướng Ngô Dzu và John Paul Vann về việc bổ nhiệm tân Tư Lệnh sư đoàn 22 (cho Đại Tá  Lê  Đức Đạt thay  vì Đại Tá  Lê  Minh Đảo) nên trong những ngày 04/21, 04/22 và 04/23/1972, lúc Cộng quân tấn công ào ạt với chiến xa vào Tân Cảnh, JP Vann đã từ chối xử dụng B52, và Tân Cảnh thất thủ.
Sau khi mất Tân Cảnh, bệnh tim của Tướng Ngô Dzu trở nặng, ông  yêu  cầu TT Thiệu cử người thay  thế,  TT Thiệu  chỉ định Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn làm Tư Lệnh QD II, Quân Khu II và Tướng Toàn đồng ý tử thủ Kontum.
Mỗi ngày tôi đều đi họp tham mưu với Trung Tá Tiên CHT. Tình hình Kontum càng ngày càng tồi tệ hơn. Lần lượt các căn cứ bảo vệ như Võ Định, Dakto, Tân Cảnh, Charlie, Delta đều bị mất vào tay địch. Sau khi Tân Cảnh mất, Sư đoàn 22 BB gần như tan rã. Kontum trở thành tiền đồn. Dân chúng nhốn nháo chuẩn bị tản cư, mà chạy đi đâu bây giờ? Tôi có ghé thăm Bệnh Viên Tiểu Khu (BV Dã Chiến?) Kon Tum thì thấy BV bỏ trống không còn gặp ai, có lẽ đã di tản rồi.
Trước tình thế nguy ngập, Tư Lệnh Quân Đoàn II điều động Sư Đoàn 23 BB từ Ban Mê Thuột lên cố thủ Kontum. Trong dịp nầy tình cờ tôi gặp lại BS Nguyễn Khanh YKH4, là Y Sĩ của Sư Đoàn 23 BB di chuyển trên QL 14 ngang qua doanh trại của tôi để tăng viện cho Kontum. Sau đó vài ngày đèo Chu Pao bị Cộng quân chiếm, đóng chốt nên Kontum đã bị bao vây.
Ngày 05/13/1972, Trung Tá Tiên  cho biết là đêm nay quân Bắc Việt sẽ tấn công dứt điểm Kontum. Ông ta nói là ông đã làm chúc thư cho gia đình rồi, có nghĩa là tính mạng của chúng tôi có thể chấm dứt đêm nay. Lúc đó tôi cũng lo sợ không biết là đêm nầy mình sẽ bị thương, hoặc chết hoặc sẽ bị  bắt  là  tù  binh? Tôi dặn dò anh em Quân Y chuẩn bị thuốc men, hầm trú ẩn và phân công việc tản thương.
Suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Vào khoảng 5 giờ sáng 05/14/102 thình lình tôi nghe từng loạt  tiếng nổ  kinh  thiên  động  địa, đồ đạc trong bệnh xá đổ nhào. Tiếng nổ liên tục làm ù tai và hất văng tôi xuống đất.
Sau này tôi mới biết là 25 phi vụ B52 được thả xuống 3000 quả bom đủ loại vào các vị   trí của quân Bắc Việt gây thiệt hại nặng nề. Ngày 05/14/1972 trận chiến vẫn còn  tiếp  diễn ở phía Bắc thị xã Kontum. Đủ loại phi cơ Hoa Kỳ và Việt Nam, đặc biệt là Phantom F4 liên tục thả bom bắn phá quân CS chỉ cách chúng tôi khoảng 500m. Một chiếc Sky- raider của Không Quân Việt Nam bị bắn rớt  và phi công đã hy sinh. Một chiếc Skyraider khác cũng bị bắn rớt, nhưng phi công nhảy dù an toàn và  được  lính Lôi Hổ cứu thoát.
Sau đó mặt trận Kontum coi như được giải tỏa. Xin cám ơn B52. Một phái đoàn Nha Kỹ Thuật gồm cả Bác Sĩ Bửu Trí, Y Sĩ Trưởng NKT và SQTYTrung úy Ngọc định đến thăm viếng và ủy lạo chúng tôi nhưng rủi thay máy bay bị bắn rớt, không một ai sống sót. Tôi vừa mừng vì thoát chết nhưng rất buồn khi được tin BS Trí, người đàn anh đáng kính, và Trung úy Ngọc đã ra đi.
Khi bước vào tuổi già con người ta hay hoài niệm chuyện cũ, thường tự hỏi tại sao mình có thể có những quyết định đầy nhiệt huyết, bất cần, thời trai trẻ. Nhưng những cái “ngông”  đó lại là những kỷ niệm sâu đậm đáng nhớ nhất của một kiếp người, nhất là  kiếp  trai  thời loạn. Để thỉnh thoảng vẫn làm tôi bâng khuâng nhớ lại, nhất là những lúc tháng Tư về.

9/2017 (updated)
Y Sĩ Trung Úy Bùi Cao Đệ YKH-4 


Tài Liệu Tham Khảo:

1.Trung Tá Lữ Triệu Khanh. Lịch Sử Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH
2.Đại Tá Trịnh Tiếu: Mặt trận Tân Cảnh, Kontum,1972