Wednesday, April 1, 2026

LỰC LƯƠNG ĐẶC BIỆT VÀ NHA KỸ THUẬT, BỘ TỔNG THAM MƯU QLVNCH


Ðể đáp ứng nhu cầu hành quân của SLL/NKT, Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Không Quân tăng phái thường xuyên cho SLL/NKT 1 máy bay C-47 và 1 phi đoàn trực thăng (Phi Ðoàn 219), và đồng thời biệt phái một số phi cơ quan sát (U-17) thuộc Phi Ðoàn 110 để bay không thám (Visual Recon). Hai Phi Ðoàn 219 và 110 đều đồn trú tại Ðà Nẵng. Hằng ngày, các phi đoàn này đều có một số máy bay trực thăng hoặc U-17 túc trực tại các phi trường hoặc tại các Chiến Ðoàn liên hệ. Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Phi Ðoàn 219 là Ðại úy Ðặng Văn Phước. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của PÐ-219 là Trung tá Nguyễn Văn Nghĩa (chết trong tù của CS tại Cao Bắc Lạng, Bắc Việt Nam năm 1977). Kể từ ngày 1/1/1971, SLL/NKT được tái tổ chức như sau:
• Bộ Chỉ Huy và Ðại Ðội Công Vụ đồn trú tại Sài Gòn (trụ sở cũ).
• Ðoàn 1 Liên Lạc do Thiếu tá Tống Hồ Huấn làm Chỉ Huy Trưởng và đồn trú tại Biên Hòa. Ðoàn 1 Liên Lạc được tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III/Quân Khu 3 và hoạt động trong vùng lãnh thổ của QK3.
• Ðoàn 2 Liên Lạc do Thiếu tá Lê Minh làm Chỉ Huy Trưởng. Ðoàn này trước tiên đồn trú tại Kontum rồi sau đó dời qua Pleiku (1973). Ðoàn 2 Liên Lạc được tăng phái cho BTL/QÐII/QK2 và hoạt động trong vùng lãnh thổ của QK2.
• Ðoàn 3 Liên Lạc do Trung tá Vũ Mạnh Cường và sau đó là Thiếu tá Ðoàn Kim Tuấn làm Chỉ Huy Trưởng. Ðoàn 3 Liên Lạc đồn trú tại Ban Mê Thuột và được tăng phái hành quân cho BTL/QÐII/QK2. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Sở Liên Lạc/NKT là Ðại tá Nguyễn Minh Tiến. Sở Liên Lạc/NKT và các đơn vị trực thuộc vẫn tiếp tục hành quân cho đến sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh tối cao của QLVNCH tuyên bố đầu hàng CSBV mới chấm dứt!
Trung tá Trần Bá Tuân. 

B) SỞ PHÒNG VỆ DUYÊN HẢI (Coastal Security Service)
Kể từ ngày thành lập, Sở Bắc, ngoài những bộ phận không vận có trách nhiệm tổ chức các cuộc xâm nhập Bắc Việt bằng đường hàng không còn có 2 chi cục trực thuộc, đó là Chi Cục Atlantic, chuyên trách việc tuyển mộ, huấn luyện và tổ chức các chuyến công tác xâm nhập lãnh thổ Bắc Việt bằng đường bộ, xuyên qua Lào và vùng Phi Quân Sự. Chi cục này đồn trú tại Huế và do Trung úy Trần Bá Tuân làm Chi Cục Trưởng.
Ðôi lúc vì nhu cầu, chi cục này cũng cho toán xâm nhập Bắc Việt bằng đường thủy qua sự phối hợp và phương tiện chuyển vận của Chi Cục Pacific. Chi Cục Pacific đồn trú tại Ðà Nẵng. Chi cục này có nhiệm vụ tuyển mộ, huấn luyện và tổ chức những chuyến xâm nhập Bắc Việt bằng đường biển. Chi cục này được trang bị một số thuyền máy gọi là Nautilus. Chi Cục Pacific do Ðại úy Hà Ngọc Oánh rồi đến Trung úy Nông An Pang làm Chi Cục Trưởng. Kể từ ngày thành lập cho đến tháng 4 năm 1964, cả hai chi cục này đều được CIA tài trợ dưới danh nghĩa của cơ quan Combined Studies Division (CSD), đồn trú tại Ðà Nẵng. Ðầu năm 1964, hai chi cục này được lệnh giải tán và toàn bộ sĩ quan, hạ sĩ quan được đưa vào Ðà Nẵng (trại Mỹ Khê) để chuẩn bị thành lập đơn vị mới.
Theo sự gia tăng cường độ của chiến tranh, Hoa Kỳ dự trù đưa sang Việt Nam một số chiến đỉnh tối tân để hoạt động tại vùng biển Bắc vĩ tuyến 17. Do đó, Sở Phòng Vệ Duyên Hải/Nha Kỹ Thuật (SPVDH/NKT – Coastal Security Service) được chính thức thành lập kể từ ngày 1/4/1964. Thiếu tá Ngô Thế Linh, Phó Giám Ðốc Nha Kỹ Thuật được đề cử giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của SPVDH/NKT. Sở Phòng Vệ Duyên Hải/NKT được chính thức thành lập như sau:


a) Bộ Chỉ Huy 

• Chỉ Huy Trưởng và văn phòng CHT (Ban Văn Thư)
• Chỉ Huy Phó
Ngoài ra còn có:
• Phòng 1 (Nhân Viên)
• Phòng 2 (Tình Báo)
• Phòng 3 (Hành Quân & Huấn Luyện)
• Phòng 4 (Tiếp Liệu & Tiếp Vận)
• Phòng An Ninh (An Ninh Quân Ðội – ANQÐ)
• Phòng 5 (Chiến Tranh Chính Trị – CTCT)
• Phòng 6 (Truyền Tin)
• Phòng Tài Ngân (Tài Ngân Ngoại Lệ) 

b) Đại Đội An Ninh Ðại Ðội này chịu trách nhiệm về an ninh cho toàn thể doanh trại của SPVDH. 

c) Cù Lao Chàm gồm 2 trại: • Trại Phượng Hoàng (Phoenix) – Nơi giam giữ và khai thác tù nhân. Người tù nhân cuối cùng rời Trại Phượng Hoàng vào ngày 22/10/1968.


• Trại DoDo – Do Sở Tâm Lý Chiến/Nha Kỹ Thuật (STLC/NKT) dùng để cho cơ quan bạn (Hoa Kỳ) ra công tác và các Toán Thẩm Vấn của STLC khai thác và thu thập các tin tức có liên quan đến chính trị, xã hội và tôn giáo tại miền Bắc để cho Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc/STLC và Ðài Tiếng Nói Tự Do/STLC sử dụng. Ðây cũng là nơi huấn luyện các mật báo viên dài hạn (Sleeping Agent) về chủ trương và đường lối hoạt động của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc. 

d) Lực Lượng Biệt Hải (Sea Commandos Force) Song song với việc thành lập Bộ Chỉ Huy SPVDH, Sở cũng xúc tiến việc tuyển mộ, huấn luyện và trang bị cho các Toán Biệt Hải để đảm trách các công tác được giao phó. Lực Lương Biệt Hải (LLBH/SPVDH) được tổ chức thành các toán và đồn trú tại các trại được xây dựng riêng rẽ từ chân núi Non Nước đến chân núi Sơn Trà như sau:


• Trại 1 – Toán Romulus gồm 50 sĩ quan & hạ sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến/QLVNCH do Thiếu úy Dương Văn Hưng và Nguyễn Văn Ngộ chỉ huy.
• Trại 2 – Toán Athena gồm 50 SQ & HSQ thuộc Lực Lượng Người Nhái/Hải Quân VNCH do Hải Quân Ðại úy Lâm Nhựt Ninh chỉ huy.
• Trại 3 – Toán Nimbus gồm 45 SQ & HSQ/QLVNCH do Thiếu úy Nguyễn Hữu Hà (Hoàng) chỉ huy.
• Trại 4 – Toán Cumulus gồm có khoảng 40 quân nhân và Biệt Kích
Quân (BKQ – Dân Sự) do Thiếu úy Nguyễn Tử Nha (Trang) chỉ huy.
• Trại 5 – Toán Mercury gồm 40 BKQ Dân Sự do Thiếu úy Nguyễn Bá Lộc chỉ huy.
• Trại 6 – Toán Vega gồm 35 nhân viên hải thuyền do Hải Quân Ðại úy Trịnh Hào Hiệp thuộc Lực Lượng Người Nhái/Hải Quân VNCH chỉ huy.
• Trại 7 – Bộ Chỉ Huy Ðại Ðội An Ninh, bãi thực tập phá hoại và bãi thực tập nhảy dù của SPVDH, kho đạn, kho chất nổ và hồ tắm (huấn luyện bơi lội và lặn bình hơi).
• Trại 8 – Toán Cancer gồm 6 nhân viên người nhái do Thiếu úy Nguyễn Thanh Hoài kiêm nhiệm.
• Trại Mỹ Khê (Trung Tâm Huấn Luyện 6)
• Bộ Chỉ Huy LLBH
• Cư xá của Huấn Luyện Viên Hoa Kỳ
• SEAL và TQLC
• Cư xá Sĩ quan và Hạ sĩ quan độc thân của QLVNCH
• Thông Dịch Viên
• Câu Lạc Bộ và nhà ăn của các cán bộ Việt-Mỹ
• Kho tiếp liệu, đạn dược, vũ khí, máy đẩy tầu, kho để thuyền cao su, tầu ngầm cá nhân, v.v.
• Trại Huấn Luyện Chim Bồ Câu Truyền Tin
• Trung Ðội An Ninh & Phòng Thủ.
• Trại 9 – Khu Cấm
Cuối năm 1966 và đầu năm 1967, khi toàn thể doanh trại của LLBH được bàn giao lại cho Ðệ Tam Lực Lượng Thủy Bộ TQLC Hoa Kỳ (III MAF) thì toàn thể LLBH về đồn trú chung tại một doanh trại, được xây cất ở chân núi Sơn Trà (Black Rock). 

e) Lực Lượng Hải Tuần (Naval Patrol Force) Lúc còn Chi Cục Pacific và được sự tài trợ của cơ quan CSD, vào khoảng cuối năm 1962 và đầu năm 1963, phía Hoa Kỳ đem sang Ðà Nẵng 3 chiến đỉnh “SWIFT” để thay thế cho các thuyền máy của chi cục này. Các thuyền trưởng đều là người Na Uy (Norway) và còn được gọi là “Vikings”, nhận công tác theo hợp đồng của CSD. Thủy thủ đoàn là các thủy thủ Việt Nam của các thuyền máy Nautilus. Các chiến đỉnh này đã thực hiện và hoàn tất một số công tác được giao phó một cách tốt đẹp.
Kể từ tháng 4 năm 1964, song song với việc thành lập Bộ Chỉ Huy SPVDH, phía Hoa Kỳ cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm của Sở này, lấy tên là Naval Advisory Detachment (CSS/NAD), do Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương (CINPAC) bổ nhiệm. Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của NAD là Hải Quân Trung tá Owens. Vị Chỉ Huy Trưởng NAD cuối cùng là Hải Quân Trung tá Olson.

Ban đầu, cả 2 cơ quan CSS và NAD tạm thời đồn trú tại Số 52 Bạch Ðằng, Ðà Nẵng (White Elephant). Sau khi đã hoàn tất việc bàn giao giữa cơ quan CSD và NAD, một phần Bộ Chỉ Huy SPVDH gồm có: CHT, Ban Văn Thư, Phòng 1, Phòng 4, Phòng Tài Chánh, Phòng 5, Phòng An Ninh đều tạm thời đồn trú tại Camp Fay (tên của vị Chỉ Huy Trưởng NAD tử nạn xe hơi năm 1967), Sơn Trà. Các phòng tương đương của NAD cũng đồn trú tại doanh trại này. Riêng văn phòng CHP, Phòng 2, Phòng 3 và Phòng Truyền Tin thì đồn trú tại Lower Base chung với các phòng tương ứng của NAD.
Cũng kể từ tháng 4 năm 1964, phía Hoa Kỳ (NAD) đem sang cho SPVDH một số chiến đỉnh có tốc độ nhanh gọi là Patrol Torpedo Fast (PTF) từ căn cứ Subic ở Phi Luật Tân. Tổng số chiến đỉnh có khi lên đến 12 chiếc. Cũng trong thời gian này, BTL Hải Quân QLVNCH tăng phái cho SPVDH một số thủy thủ đoàn gồm SQ & HSQ thuộc Hải Quân/QLVNCH để điều khiển các chiến đỉnh này. Lực Lượng Hải Tuần gồm có từ 12 đến 14 Thủy Thủ Ðoàn. Mỗi Thủy Thủ Ðoàn có từ 12 đến 16 SQ & HSQ. Lực lượng này đồn trú tại Trại Trần Hưng Ðạo (còn gọi là Upper Base). Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của LLHT là Hải Quân Thiếu tá Diệp Quang Thủy. Ngoài ra, SPVDH còn có một toán bảo trì và sửa chữa chiến đỉnh gọi là MST (Mobil Support Team) do Ðại úy Cơ Khí Nguyễn Văn Quang, Sĩ quan Cơ Khí của SPVDH làm Toán Trưởng. Toán này có nhiệm vụ bảo trì và sửa chữa cấp 1 cho các chiến đỉnh mà thôi. Các tu bổ đại kỳ thì phải gởi chiến đỉnh sang Subic Bay tại Phi Luật Tân.
Kể từ tháng 6 năm 1966, Ðại tướng Cao Văn Viên, TTMT/QLVNCH đề cử Hải Quân Trung tá Hồ Văn Kỳ Thoại làm Chỉ Huy Trưởng SPVDH, thay thế Thiếu tá Ngô Thế Linh trở về BCH/NKT đảm nhận lại chức vụ Phó Giám Ðốc NKT. Cũng kể từ đó, toàn thể BCH/SPVDH di chuyển về đóng chung tại Lower Base. Kể từ ngày thành lập (1/4/1964) cho đến ngày 1/11/1968, khi Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt, SPVDH/NKT đã thực hiện các loại hành quân sau đây:

• Những Cuộc Hành Quân lấy tên là LOKI:
Những cuộc hành quân này có mục đích bắt tù binh kể cả ngư dân và cán bộ Cộng Sản đưa về trại Phoenix để khai thác tin tức và cung cấp các mục tiêu quân sự tại Bắc vĩ tuyến 17 cho Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ oanh tạc. Theo khả năng thì các chiến đỉnh PTF của SPVDH chỉ hoạt động lên tới vĩ tuyến 20 (Thanh Hóa), nhưng có đôi lần các chiến đỉnh này đã hoạt động lên đến tận Bạch Long Vỹ.
Trong suốt thời gian hoạt động, SPVDH đã bắt hơn 500 ngư dân, công an hoặc cán bộ các Hợp Tác Xã (HTX) ngư nghiệp tại miền Bắc. Sau khi đem về trại Phoenix để khai thác tin tức, cán bộ SPVDH tuyển chọn trong số này những người thù ghét chế độ Cộng Sản để huấn luyện họ làm mật báo viên dài hạn (Sleeping Agent), chờ ngày giải phóng miền Bắc. Sau khi hoàn tất việc huấn luyện, cách thu thập tin tức, cách viết mật thư, v.v. những người này được chuyển sang trại DoDo để nơi đây huấn luyện (indoctrination) về chủ trương và đường lối của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc do các cán bộ của STLC/NKT hướng dẫn dưới danh nghĩa Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc. Ngoài ra, các cán bộ STLC còn khai thác thêm các tin tức liên quan đến chính trị, xã hội và tôn giáo tại miền Bắc để hoạch định các công tác Tâm Lý Chiến của Ðài Tiếng Nói Tự Do và Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc thuộc STLC/NKT.
Sau một thời gian, tất cả những người bị bắt đều được trả về miền Bắc và mỗi người đều được tặng một gói qùa gồm radio, mùng, mền, lưới cá và cước, v.v. do STLC/NKT thực hiện. Mỗi lần thả, họ đều được PTF chở ra vùng họ ở và cho xuống một chiếc thuyền thúng tròn, đan bằng tre để họ chèo vào bờ. Hầu hết những người được thả khi về đến địa phương đều bị Cộng Sản Bắc Việt tịch thu hết các qùa tặng, gây nhiều căm phẫn cho nhân dân và gia đình. Ðặc biệt, có người sau một thời gian lại cố ý ra biển để được bị bắt lại, bởi lẽ đời sống của người dân miền Bắc, đặc biệt là ngư dân, rất cực khổ và đói kém. Khi vào trại của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc (PTGTAQ) được ăn uống no đủ, áo quần mới và được đối xử tử tế, nên mặc dù trong thâm tâm vẫn nghĩ PTQGAQ là của miền Nam Việt Nam, nhưng họ rất có cảm tình, và đã cung cấp nhiều tin tức quân sự có giá trị cao.

• Những Cuộc Hành Quân lấy tên là CADO:
Do các toán Biệt Hải đổ bộ vào bờ để đột kích hoặc bắn phá các đồn Công An Biên Phòng tại các cửa biển hoặc các cơ sở trên đất liền. Cũng vào năm 1964, toán Biệt Hải Cumulus đã đổ bộ và bắn phá nhà máy nước tại Bầu Tró (Ðồng Hới), gây nhiều thiệt hại đáng kể cho nhà máy này. Nhiều lần khác, các toán Biệt Hải đã đổ bộ và bắt cóc cán bộ Bắc Việt trong các làng ven biển tại Ðồng Hới và Quảng Bình.

• Những Cuộc Hành Quân lấy tên là MINT:
Trong suốt thời gian Hoa Kỳ phong tỏa hải phận Bắc Việt và thả mìn ở cửa biển Hải Phòng, SPVDH liên tục hành quân từ vùng vĩ tuyến 17 đến Thanh Hóa. Trong thời gian này, SPVDH đã chận đánh các đoàn ghe máy Bắc Việt tiếp tế cho các hải đảo ngoài khơi duyên hải. Ðặc biệt là các chiến đỉnh của SPVDH đã đánh tan một đoàn tiếp tế của Bắc Việt cho đảo Hòn Cọp, tich thu rất nhiều vũ khí và quân dụng, trong đó có một khẩu 82ly không giật của Nga Sô, loại vũ khí được tịch thu lần đầu tiên tại chiến trường Việt Nam lúc bấy giờ.

• Các Cuộc Hành Quân Tâm Lý Chiến:
Sở Tâm Lý Chiến/NKT thực hiện các loại truyền đơn dưới danh nghĩa của PTGTAQ và các gói qùa tặng. Truyền đơn do STLC thực hiện gồm có 2 loại. Một loại thả theo các gói qùa. Loại kia do súng cối 81ly đặt trên các PTF bắn vào bờ. Số truyền đơn và qùa tặng được chuyển từ STLC ra cho SPVDH. Sở này dùng các chiến đỉnh PTF để thả các gói qùa trên biển về phía Bắc vĩ tuyến 17, hoặc dùng súng cối 81ly bắn vào bờ.

• Cuộc Hành Quân Ðặc Biệt tên là LURE:
Truyền đơn thả theo các gói qùa trên biển của Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc kêu gọi các tầu của Bắc Việt trốn vào miền Nam Việt Nam. SPVDH dùng một ghe máy có tên là Nautilus (NI) thả neo túc trực tại phía Nam vĩ tuyến 17. Trường hợp tầu của Hải Quân Bắc Việt vượt tuyến vào Nam đầu thú sẽ được cán bộ và thủy thủ đoàn của chiếc NI đón tiếp. Ngoài phần thưởng đặc biệt dành cho thuyền trưởng và thuyền phó, mỗi thủy thủ đều được Chính Phủ VNCH lo cho chỗ ăn, chỗ ở và mỗi người đều được thưởng 100 (một trăm) lượng vàng để sinh sống. Cuộc hành quân này kéo dài gần 3 tháng mới chấm dứt.
Sau ngày Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt vào năm 1968, SPVDH được tăng phái hành quân cho Quân Ðoàn II và Quân Ðoàn IV – Quân Khu IV, hoặc tham dự những công tác cứu phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi trong và ngoài lãnh thổ VNCH. Kể từ tháng 4 năm 1972, sau khi có lệnh thượng cấp Hải Quân hóa toàn bộ SPVDH thì các SQ và HSQ Lục Quân được thuyên chuyển về BCH/NKT và các Sở/Ðoàn trực thuộc. Riêng các BKQ Dân Sự thì một số tình nguyện cải tuyển qua QLVNCH và vẫn phục vụ tại các Sở/Ðoàn nói trên. Một số khác không tình nguyện cải tuyển thì được trả về đời sống dân sự.
Qua những thành tích hoạt động và chiến tích của SPVDH, Sở này đã được 2 lần tuyên dương công trạng trước Quân Ðội, được ân thưởng 2 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu và đơn vị được mang dây Biểu Chương mầu Anh Dũng Bội Tinh. Ngoài ra, năm 1967, SPVDH cũng được BTL Hải Quân Hoa Kỳ ân thưởng 1 huy chương “MERITERIOUS SERVICE”. Khi HQ Trung tá Hồ Văn Kỳ Thoại được vinh thăng Ðại tá và được bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Vùng I Duyên Hải thì HQ Ðại tá Nguyễn Viết Tân thay thế cho đến ngày 30/4/1975.

Cũng xin nói thêm ở đây là sau khi chính phủ Hoa Kỳ ngưng oanh tạc Bắc Việt vào ngày 1/11/1968 thì mọi hoạt động của SPVDH tại Bắc vĩ tuyến 17 đều chấm dứt. Từ đó, Sở này được tăng cường phối hợp hành quân với các đơn vị bạn tại QÐ I và QÐ IV cho đến ngày 30/4/1975. Các chiến đỉnh SWIFT và PTF cũng được phía Hoa Kỳ chuyển về Subic Bay ở Phi Luật Tân trước ngày 30/4/1975.
Nói chung, kể từ ngày thành lập cho đến ngày Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, SPVDH đã cùng các đơn vị khác của Nha Kỹ Thuật đóng góp nhiều chiến tích oai hùng và cũng là một nét son trong quân sử QLVNCH. C) Sở Tâm Lý Chiến (Psychological Warfare Service)
Ðể đáp ứng nhu cầu đòi hỏi, Sở Tâm Lý Chiến/NKT đã sử dụng 3 hình thái chiến tranh sau đây trong cuộc chiến tranh ngoại lệ, hay chiến tranh bất qui ước (unconventional warfare) tại Việt Nam:
1. Chiến Tranh Tình Báo (Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở Công Tác)
2. Chiến Tranh Phá Hoại (Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Sở Công Tác)
3. Chiến Tranh Khuynh Ðảo.
Song song với sự hình thành của Sở Liên Lạc, Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Nha Kỹ Thuật cũng thành lập Sở Tâm Lý Chiến (STLC/NKT). Ngoài những Phòng, Ban theo tổ chức của QLVNCH như Phòng Chính Huấn, Phòng Tâm Lý Chiến, Phòng Xã Hội, v.v. STLC/NKT còn tổ chức những cơ sở sau đây:


a) Ðài Tiếng Nói Tự Do (VOF – Tuyên Truyền Xám)
b) Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc (SSPL Radio – Tuyên Truyền Ðen)
c) Phòng Công Tác – Phòng này có nhiệm vụ thực hiện các truyền đơn, giấy tờ giả, bạc giả và các gói qùa tâm lý chiến như: quần áo, mùng, mền, lưới cá, cước, lưỡi câu, radio, v.v. Những loại truyền đơn được bỏ vào đạn súng cối 81ly và các chiến đỉnh của SPVDH bắn vào bờ. Các gói qùa tâm lý chiến thì cũng do các chiến đỉnh thả dọc theo bờ biển trong vùng hành quân Bắc vĩ tuyến 17. Ngoài ra, Phòng Công Tác/STLC cũng có các toán thẩm vấn gồm SQ và HSQ nhiều kinh nghiệm ra công tác tại trại DoDo (Cù Lam Chàm) để sang trại Phượng Hoàng (Phoenix) thẩm vấn các tù nhân về các tin tức liên quan đến chính trị, xã hội, tôn giáo và văn hóa, v.v. tại miền Bắc để cung cấp cho Ðài Tiếng Nói Tự Do (TNTD) và Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc (GTAQ) trong các bản tin và bình luận của 2 đài này. Trong số tù nhân, nếu có những thành phần hợp tác và có tinh thần chống Cộng Sản, họ được tuyển mộ làm mật báo viên nằm vùng cho PTGTAQ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc. Sau khi được huấn luyện về tình báo, họ được chuyển sang trại DoDo để học tập về chủ trương và đường lối hoạt động của PTGTAQ, và tuyên thệ xin gia nhập Phong Trào trước khi được phóng thích trở về nguyên quán. Phía cơ quan đối nhiệm Hoa Kỳ cũng có các toán thẩm vấn tương tự và cũng công tác tại trại DoDo mà thôi. Những nhu cầu tin tức của họ đều được dịch ra Việt ngữ và được các toán thẩm vấn viên tại trại Phượng Hoàng thỏa mãn các nhu cầu đòi hỏi.

Trụ sở của STLC/NKT và 2 Ðài TNTD và Ðài GTAQ đều được đặt tại Số 7 Hồng Thập Tự, Sài Gòn. Ngoài ra, còn có các Trung Tâm Phát Tuyến ở Thủ Ðức, Thanh Lam (Huế), Cồn Tè (Thuận An, Huế) phát sóng bao phủ toàn miền Bắc cho đến tận biên giới Trung Hoa. Vị Chánh Sự Vụ đầu tiên của STLC/NKT là Thiếu tá Phạm Thế Phiệt. Vị Chánh Sự Vụ sau cùng là Trung tá Ðăng Xuân Thoại. Trung tá Thoại đã anh dũng tuẫn tiết bằng súng Colt-45 tại bệnh viện Saint Paul, Sài Gòn vào sáng ngày 30/4/1975, trước khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam! Vị Quản Ðốc Ðài TNTD là Ðại úy Vũ Quang Ninh. Vị Quản Ðốc Ðài GTAQ là Ðại úy Ðỗ Bá Tư.
Sau khi MACSOG (Military Assistance Command – Studies and Observations Group) giải tán vào tháng 4/1972, một phần nhân viên của STLC/NKT được thuyên chuyển về Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị/QLVNCH (Cục Tâm Lý Chiến) và thành lập Ðài Mẹ Việt Nam kể từ tháng 7/1972. Phần SQ và HSQ còn lại của STLC/NKT thì di chuyển về trụ sở mới, cạnh BCH Sở Liên Lạc/NKT và sinh hoạt những công tác chính huấn, tâm lý chiến và xã hội của QLVNCH.

D) Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế (Camp Long Thanh Training Center)
Vì lý do an ninh, đầu năm 1961, Bộ chỉ huy Sở Khai Thác Ðịa hình/ Phủ Tổng Thống (Tiền thân của BTL/LLÐB sau này) quyết định dời Trại Huấn Luyện Biệt Kích Nhảy Dù Thủ Ðức – Ðồn trú cạnh sân bắn 25 của Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức – và cạnh xa lộ Thủ Ðức – Biên Hòa – lên đồn trú tại Long Thành. Trung Tâm được xây dựng cạnh đồn điền cao su Long Thành. Ở đó, có một sân bay do đồn điền cao su không sử dụng từ lâu. Sân bay này khiển dụng cho các loại máy bay C-119, C-47, C-123,và C-130, rất thuận tiện cho hoạt động của Sở. Trung Tâm được xây dựng trong một khu vực rộng lớn, có tường bao bọc chung quanh, và có thêm một hệ thống gồm 9 pháo đài phòng thủ, dọc theo các bức tường là các vị trí chiến đấu cá nhân. Trung Tâm có đầy đủ tiện nghi làm nơi ăn ở cho các HLV Việt-Mỹ, phòng học và nơi ở cho khóa sinh, nhà ăn, câu lạc bộ sĩ quan, hạ sĩ quan, nhà kho và nhà xếp dù, v.v. Trung Tâm có 2 Ðại Ðội Dân Sự Chiến Ðấu (DSCĐ) Nùng bảo đảm việc an ninh, phòng thủ và canh gác ngày đêm.

Trung úy Nguyễn Văn Vinh
(Cố Trung tá, người ngồi giữa hàng đầu, chắp tay, đeo kính trắng). Toàn thể cán bộ Việt-Mỹ, các HLV, các toán hành quân của LÐ 77 (Lôi Vũ), các Trung Ðội Beo gấm, các đại đội Biệt Kích 1, 2, 3, 4 và gia đình đều đồn trú tại Trung Tâm này (có trại gia binh riêng). Trung Tâm được đặt tên là “Trung Tâm Huấn Luyện YÊN THẾ” để vinh danh Cụ Hoàng Hoa Thám, người được mệnh danh là “Con Hùm Xám YÊN THẾ”. Cụ Hoàng Hoa Thám xây dựng mật khu YÊN THẾ trong cuộc kháng chiến chống Pháp vào cuối thế kỷ thứ 19. Riêng phía Hoa Kỳ, họ vẫn giữ tên là: “CAMP LONG THÀNH TRAINING CENTER” cho đến khi triệt thoái vào tháng 4/1972. Trung Tâm được chỉ huy bởi Ðại úy Lê Ngọc Linh, Trưởng Trại Huấn Luyện Biệt Kích Nhảy Dù Thủ Ðức.

Trung Tâm Huấn Luyện cũng dành riêng một khu vực riêng biệt, có tường bao bọc chung quanh cho Sở Bắc. Khu vực này do Trung úy Nguyễn Văn Vinh (bí danh Dũng) đảm trách. Ðây cũng là nơi đồn trú cho các toán dài hạn của Sở Bắc để thay thế các nhà an toàn (Safe House) ở Sài gòn, Ðà Nẵng, Huế v.v., vừa tốn kém tiền thuê mướn, vừa bất tiện về vấn đề an ninh. Khu vực này là nơi đồn trú của Ðoàn Công Tác 68 sau này. Ngoài những môn học về tình báo do các cán bộ điều khiển (Case Officer) phụ trách, các môn học về Truyền Tin, Mật Mã (do Phòng Truyền Tin Sở Bắc đảm trách), các môn học khác như phá hoại, vũ khí cá nhân, cộng đồng của hai khối Tự Do & Cộng Sản, nhảy dù, v.v. đều do các HLV Việt-Mỹ của Trung Tâm đảm trách. Những Sĩ quan Huấn Luyện Viên về môn Phá Hoại sau đây là những người đầu tiên phục vụ tại Trung Tâm này:
1. Nguyễn Phan Tựu
2. Nguyễn Ngọc Trâm
3. Nguyễn Văn Lai
4. Nguyễn Phi
5. Nguyễn Ngọc Hòa (sau đổi qua binh chủng Biệt Ðộng Quân và đã anh dũng đền nợ nước). Khi Sở Khai Thác Ðịa Hình/PTT chuyển hướng hoạt động về phía biên giới Lào-Việt, Tchepone, Khe Sanh, Lao Bảo và đường số 9 (Nam Lào), thì toàn bộ Trung Tâm này di chuyển ra Ðà Nẵng và đồn trú tại Trung Tâm Huấn Luyện Hòa Cầm. Toàn thể Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế bàn giao lại cho Sở Bắc và Nha Kỹ Thuật sau này. Ðại úy Nguyễn Văn Hy, thuộc Sở Bắc được đề cử giữ chức vụ CHT Trung Tâm. Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế được đổi tên là Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng cho đến cuối tháng 4/75. Vị CHT cuối cùng của Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng là Ðại tá Ngô Thế Linh. Năm 1969, người viết có tham dự một khóa hội luận (Seminar), tổ chức tại Trung Tâm để thảo luận về đề tài Ðiều Không Tiền Tuyến, hay Ðiều Khiển Oanh Kích (FAG – Forward Air Guide). Các sĩ quan tham dự gồm:
• Ðại úy Nguyễn Tử Nha (BCH/NKT)
• Ðại úy Nguyễn Phan Tựu (Ðoàn 68)
• Đại úy Trần Kim Khánh (Ðoàn 11)
• Và một số SQ/HLV của Trung Tâm. Cuộc hội luận này nhằm đặt nền tảng cho bài học “Ðiều Khiển Oanh Kích” của Chương Trình Huấn Luyện căn bản thám sát (RT) sau này. Khi BTL Lực Lượng Ðặc Biệt di chuyển ra đồn trú tại Nha Trang thì Trung Tâm Huấn Luyện Hòa Cầm bàn giao lại cho BTL/QÐI/QK1 và về đồn trú tại Ðộng Ba Thìn, gần thị xã Cam Ranh cho đến ngày giải tán (31/12/1970).

E) Sở Không Yểm (Air Support Service)
Ngay sau khi Sở Bắc kiện toàn tổ chức, đào tạo các cán bộ và tuyển mộ được một số nhân viên công tác sẵn sàng hoạt động tại miền Bắc, kể từ năm 1961, Bộ Tư Lệnh Không Quân/QLVNCH đã biệt phái một phi đoàn vận tải (Phi Ðoàn Thần Phong 83) cùng với phi hành đoàn để hoạt động theo nhu cầu của Sở Liên Lạc/PTT (Sở Bắc). Một trong những phi công thả Toán Castor năm 1961 là Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ. Sau chuyến công tác thả tiếp tế cho Toán Castor do Trung úy Phan Thanh Vân lái bị bắn rơi ở Tô Hiệu, Bắc Việt vào đêm 3/7/1961 thì Sở Liên Lạc/PTT không còn dùng loại phi cơ C-47 để thả các toán Biệt Kích xuống miền Bắc nữa mà sử dụng các loại máy bay khác như C-46, C-54, v.v. do các phi công của Trung Hoa Quốc Gia (Ðài Loan) lái theo hợp đồng với cơ quan CSD của Hoa Kỳ.
Các phi công thuộc phi đoàn 219 (Sở Không Yểm/NKT). Một trong những sĩ quan của BTL Không Quân/QLVNCH làm sĩ quan liên lạc cạnh Sở Bắc là Ðại úy Dư Quốc Lương. Sở Không Yểm/NKT được chính thức thành lập kể từ ngày 1/1/1971 cùng với sự cải tổ của Nha Kỹ Thuật và do Ðại tá Dư Quốc Lương làm Chỉ Huy Trưởng. Theo sơ đồ tổ chức, Sở Không Yểm/NKT gồm có:
• Bộ Chỉ Huy
• 1 Phi Ðoàn Vận Tải C-123
• 1 Phi Ðoàn Vận Tải C-130
• 1 Phi Ðoàn Quan Sát (O-1 hay V-17)
• 1 Phi Ðoàn Trực Thăng (Phi Ðoàn 219) Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng dự trù trang bị cho Phi Ðoàn 219 một số trực thăng võ trang loại Cobra, nhưng vì Chính Phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối với VNCH và chuẩn bị rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nên việc chuyển giao các loại phi cơ nói trên cho Sở Không Yểm/NKT đã không được thực hiện.
Cũng xin nói thêm rằng: Kể từ đầu năm 1964, khi Sở Liên Lạc/NKT được thành lập và bắt đầu các cuộc hành quân ngoại biên, ngoại trừ PÐ-219 và PÐ-110 cung cấp một số phi cơ, phía Hoa Kỳ đảm nhận mọi vấn đề không vận cho các Chiến Ðoàn Xung Kích Việt-Mỹ, như máy bay quan sát O-2 để bay không thám (visual recon) và để tìm bãi đáp cùng hướng dẫn các trực thăng (Slick) thả và vớt toán, trực thăng võ trang (gunships), máy bay quan sát O-1 để tiếp vận truyền tin (radio relays), v.v. Phi cơ O-2 thường đồn trú tại sân bay Pleiku, phi cơ trực thăng thì đồn trú tại Nha Trang và phi cơ quan sát O-1 đồn trú tại Ban Mê Thuột, v.v. Khi cần, các phi cơ OV-10 ở Thái Lan (Nakhon Phanom và Udon) cũng như các phi cơ oanh kích của Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ sẽ can thiệp ngay sau khi có sự yêu cầu. Ðó là về phía Hoa Kỳ.

Về phía VNCH thì Phi Ðoàn 219 (trực thăng) được tăng phái thường xuyên cho NKT và đồn trú tại Ðà Nẵng để cùng với phía Hoa Kỳ phụ trách các công tác xâm nhập (thả – insert) và triệt xuất (Bốc, vớt – extract) các toán Biệt Kích. Ngoài ra, Phi Ðoàn Quan Sát 110 (đồn trú tại Ðà Nẵng) cũng biệt phái mỗi ngày một máy bay U-17 (Cessna) cho mỗi Chiến Ðoàn Xung Kích để bay không thám (visual recon – VR) và liên lạc với các toán đang hoạt động dưới đất. Thêm vào đó, BTL Không Quân VNCH cũng biệt phái cho NKT 4 máy bay khu trục loại A1-E, từ Biên Hòa lên túc trực tại sân bay Holloway (Pleiku) để can thiệp khi cần.
Những năm sau này, khi MACSOG giải tán và Hoa Kỳ rút quân không còn yểm trợ nữa thì các cuộc hành quân ngoại biên của NKT cũng chấm dứt. Riêng các cuộc hành quân nội địa thì ngoại trừ Phi Ðoàn 219, Không Quân VNCH còn tăng phái thêm các trực thăng của Phi Ðoàn 233 và 235 cùng các phi cơ quan sát của Phi Ðoàn 118 và 120, v.v. tùy theo vùng hành quân của Sở Liên Lạc/NKT và Sở Công Tác/NKT, hoạt động tại nội địa mà thôi.
Trung tá Đỗ Văn Tiên.
Sau cuộc đảo chánh quân sự của các tướng lãnh trong QLVNCH, cả hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ phát giác ra rằng Cộng Sản Bắc Việt đã gia tăng các hoạt động quân sự tại vùng phi quân sự từ Bắc vĩ tuyến 17 ra đến Ðồng Hới, chiếu theo tin tức tình báo nhận được từ không ảnh và vệ tinh chụp được cùng đối chiếu với cung từ của tù binh bộ đội CSBV. Do đó, NKT và MACSOG thành lập một chương trình lấy tên là STRATA (Short Term Road Watch And Target Acquisition), hoạt động ngắn hạn tại Bắc vĩ tuyến 17.
Chương trình này khởi động từ cuối năm 1966 với một vài toán đặc biệt do sự điều động trực tiếp của Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật. Các toán này tạm thời đồn trú tại TTHL Yên Thế (Long Thành). Ðến cuối năm 1967 và đầu năm 1968, BCH/NKT đề cử Ðại úy Ðỗ Văn Tiên làm Chỉ Huy Trưởng và thành lập Ðoàn 11.
Song song với việc thành lập Ðoàn 11, phía Hoa Kỳ cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm (counterpart organization) lấy tên là Monkey Mountain Forward Operations Base (MMFOB), trực thuộc MACSOG và đồn trú tại trại Fay (Camp Fay). Cơ quan này yểm trợ trực tiếp cho Ðoàn 11. Vùng hoạt động chính của Ðoàn 11 là Bắc vĩ tuyến 17. Mặc dù Ðoàn 11 đã sát nhập vào Sở Công Tác/NKT kể từ ngày 1/1/1971, tuy nhiên vì nhu cầu công tác, đôi lúc Ðoàn 11 cũng hành quân tại biên giới Lào-Việt (Praire Fire) và Miên-Việt (Salem House) theo sự điều động trực tiếp của BCH/NKT cho đến đầu năm 1972. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Ðoàn 11 là Thiếu tá Lê Hữu Minh.

G) Ðoàn 68
Trong năm 1968, BCH/NKT và MACSOG thành lập Ðoàn 68 do Trung tá Hà Ngọc Oánh làm Chỉ Huy Trưởng và đồn trú tại Sài Gòn. Công tác chính của Ðoàn 68 là tuyển mộ và huấn luyện các hồi-chánh-viên và tù binh của bộ đội CSBV trong các công tác tình báo đặc biệt, như xâm nhập vào các đơn vị bộ đội CSBV đang đóng quân tại Lào và Kampuchia để thu thập các tin tức quân sự, bắt tù binh, đánh cắp tài liệu và đặc lệnh truyền tin cùng bản đồ hành quân, phá hoại quân xa và quân dụng của địch, v.v. và nhất là chỉ định rõ các vị trí đóng quân của địch để Không Quân Hoa Kỳ oanh tạc. Những cán binh Cộng Sản nào tỏ ra hợp tác và hoàn tất được công tác giao phó sẽ nhận được các phần thưởng đặc biệt bằng hiện kim và được tiếp tục sử dụng trong những công tác tình báo khác. Các cán binh nào phản lại những cam kết hoặc tìm cách lẩn trốn thì sẽ được Ðoàn 68 sử dụng trong các công tác “lừa địch” (deception). Ðoàn 68 ngưng những hoạt động này khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết và chuẩn bị trao đổi tù binh.
Kể từ ngày thành lập cho đến khi MACSOG giản tán vào tháng 4 năm 1972, Ðoàn 68 hoạt động dưới sự giám sát trực tiếp của BCH/NKT, mặc dù trên danh nghĩa Ðoàn này nằm trong tổ chức của Sở Công Tác kể từ ngày 1/1/1971. Tiếp theo sau đó, Ðoàn 68 di chuyển về đồn trú tại TTHL Long Thành và được bổ sung thêm một số SQ & HSQ và được tăng phái cho BTL Quân Ðoàn III & Quân Khu III, hành quân trong vùng lãnh thổ của Quân Khu này cho đến khi bộ đội Cộng Sản chiếm Biên Hòa và Long Thành vào những ngày cuối tháng 4/1975. Vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của Ðoàn 68 là Trung tá Trương Duy Tài.

H) Sở Công Tác (Special Mission Service)
Sở Công Tác/NKT được chính thức thành lập kể từ ngày 1/1/1971 để thay thế Sở Bắc. Vùng hoạt động của SCT/NKT là toàn lãnh thổ Bắc Việt, từ vĩ tuyến 17 lên đến biên giới Trung Hoa. Nhiệm vụ chính gồm có:
1) Xâm nhập, tuyển mộ, huấn luyện, trang bị và phát triển các căn cứ du kích trên toàn miền Bắc Việt Nam theo chỉ thị của BCH/NKT.
2) Thu thập các tin tức tình báo liên quan đến tình hình chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội và tôn giáo trên toàn lãnh thổ miền Bắc.
3) Tấn công, đột kích hoặc phá hoại các cơ sở hạ tầng của CSBV như: đường giao thông, đường xe lửa, cầu cống, bến phà, bến tầu, sân bay, các kho tàng, các nơi đồn trú và các cơ sở quân sự của bộ đội CSBV.
4) Thi hành những công tác khác do BCH/NKT ấn định, căn cứ vào nhiệm vụ chính và vùng hoạt động. Ðể thi hành nhiệm vụ của thượng cấp giao phó, Sở Công Tác/NKT được tổ chức như sau:

a) Đơn Vị Yểm Trợ • Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội Yểm Trợ & Công Vụ và Phân Ðội Tiếp Tế Thả Dù
• Phân Ðội Truyền Tin (Ðại Ðội Truyền Tin/NKT biệt phái)
• Phân Ðội Quân Y & Bệnh Xá (Ðại Ðội Quân Y/NKT biệt phái) b) Đơn Vị Chiến Đấu • Ðoàn Công Tác 11 (đã có sẵn, chỉ tăng thêm quân số)
• Ðoàn Công Tác 68 (đã có sẵn, chỉ tăng thêm quân số)
• Ðoàn Công Tác 71 (tân lập)
• Ðoàn Công Tác 72 (tân lập)
• Ðoàn Công Tác 75 (tân lập) Mỗi Ðoàn Công Tác gồm Bộ Chỉ Huy Ðoàn như: B1, B2, B3, B4, Ban Chiến Tranh Chính Trị và 4 Liên Toán. Mỗi Liên Toán có 3 Toán Công Tác. Liên Toán Trưởng với cấp bậc Thiếu tá sẽ được học bổ túc về nghiệp vụ và sẽ trở thành Trưởng Công Tác (Case Officer) của mỗi công tác được giao phó. Theo nhiệm vụ và vùng hoạt động, mỗi Ðoàn Công Tác có thể cho xâm nhập từng Toán, một Liên Toán hoặc cả Ðoàn Công Tác. Khi đảm nhận công tác chính thức, SCT/NKT sẽ hoạt động dưới danh nghĩa của “Phong Trào Gươm Thiêng Ái Quốc”, nằm trong “Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc”. Ðể các Ðoàn của SCT/NKT hoạt động tại hậu phương địch một cách hiệu quả, mỗi Toán Công Tác gồm 12 SQ & HSQ được tổ chức như sau:
• Toán Trưởng – Ðại úy
• Toán Phó kiêm SQ/CTCT – Trung úy
• HSQ Tình Báo – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• HSQ Hành Quân – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Vũ Khí (vũ khí nặng) – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Phá Hoại – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Y Tá – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy
• 2 HSQ Truyền Tin & Mật Mã – Từ Thượng sĩ I đến Chuẩn úy

Trung tá Nguyễn Thanh Văn, CHT/ĐCT-75/SCT/NKT.
Ðầu tiên, tất cả các SQ & HSQ đều phải trải qua phần huấn luyện của một toán viên Lực Lượng Ðặc Biệt (dựa theo phần huấn luyện của LLÐB Hoa Kỳ) và nhảy dù. Sau đó, ngoại trừ SQ Toán Trưởng và Toán Phó sẽ được học bổ túc về nghiệp vụ, các toán viên khác sẽ được thụ huấn về chuyên môn như: tình báo, vũ khí (kể cả vũ khí nặng của hai khối Tự Do và Cộng Sản), phá hoại, truyền tin và mật mã, v.v. tại TTHL Quyết Thắng (Long Thành) hoặc gởi đi thụ huấn tại các quân trường chuyên môn khác của QLVNCH (tương đương với bằng B1 chuyên môn). Lúc trở về đơn vị sẽ được bổ sung và thành lập Toán. Mỗi Toán sẽ sống và sinh hoạt chung với nhau. Khi các Toán thi hành nhiệm vụ chính ở Bắc Việt Nam thì quy chế đặc biệt sẽ được BCH/NKT và BCH/SCT ấn định sau.
Advertisement
Song song với việc thành lập Sở Công Tác/NKT, cơ quan MACSOG cũng thành lập một cơ quan đối nhiệm của Sở này, lấy tên là “Special Mission Service Advisory Group – SMSAG”. Trên nguyên tắc, cơ quan này có nhiệm vụ phối hợp soạn thảo kế hoạch, yểm trợ về huấn luyện, phương tiện hành quân, tài chánh ngoại lệ và các trang bị hành quân đặc biệt theo nhu cầu của SCT/NKT khi cần.
Trên đây là theo kế hoạch tổ chức và sự thảo luận giữa BCH/NKT và MACSOG. Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách về Việt Nam (Việt Nam hóa chiến tranh, Hoa Kỳ chuẩn bị rút quân khỏi miền Nam, Hiệp Ðịnh Paris ra đời, v.v.) nên nhiệm vụ chính của Sở Công Tác/NKT đã không thực hiện được. Từ giữa năm 1971 và cả năm 1972, các Ðoàn Công Tác của SCT/NKT cũng chỉ đảm nhận các cuộc hành quân nội địa và ngoại biên giống như các Ðoàn của Sở Liên Lạc/NKT mà thôi! Vào một ngày thượng tuần tháng 2/1972, cơ quan SMSAG thông báo cho BCH Sở Công Tác/NKT biết là kể từ ngày 20/2/1972, Hoa Kỳ sẽ không còn cung cấp phương tiện hành quân (Air Asset) cho SCT/NKT nữa. Tất cả mọi phương tiện hành quân của SCT phải xin phía chính phủ VNCH. Vào khoảng cuối tháng 2/1972, BCH Sở Công Tác/NKT được lệnh di chuyển BCH và Ðại Ðội Yểm Trợ Công Vụ ra đồn trú tại Ðà Nẵng vào ngày 31/3/1972 bằng tầu của Hải Quân VNCH!
Kể từ tháng 4/1972, BCH Sở Công Tác/NKT và các Ðoàn 11, 71 và 72 tăng phái cho BTL/QÐI hành quân tại lãnh thổ QK1. Ðoàn Công Tác 75 tăng phái hành quân cho BTL/QÐII và hành quân tại vùng lãnh thổ QK2. Ðoàn Công Tác 68 tăng phái cho BTL/QÐIII và hành quân tại lãnh thổ QK3. Sau cuộc rút quân từ Ðà Nẵng và Pleiku về Sài Gòn, SCT/NKT vẫn tăng phái cho BTL/QÐIII, hành quân ở vùng Biên Hòa và Ðồng Nai cho đến chiều ngày 29/4/1975.

Lữ Triệu Khanh (CVP/GÐ/NKT), 2 Sĩ Quan MACVSOG, Ðại Tá Ðoàn Văn Nu (Giám Ðốc NKT)
(Hình chụp tại Bộ Chỉ Huy MACVSOG của Thiếu Tá Lữ Triệu Khanh).
Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của SCT/NKT là Ðại tá Ngô Thế Linh và vị Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của SCT/NKT là Ðại tá Ngô Xuân Nghị. Vì nhu cầu chiến lược, Sở Công Tác được thành lập để đảm nhận công tác thay thế Sở Bắc. Vùng hoạt động là Bắc vĩ tuyến 17, bao gồm toàn lãnh thổ Bắc Việt cho đến biên giới Trung Hoa. Tuy nhiên, vì chính phủ Hoa Kỳ thay đổi chính sách về Việt Nam nên các Ðoàn Công Tác của SCT/NKT không thực hiện được nhiệm vụ chính của mình đúng theo qui định của thượng cấp. Dù vậy, chiến sĩ các cấp của SCT/NKT cũng đã góp một phần không nhỏ, kể cả máu xương của mình, trong những chiến tích của NKT nói riêng và các Quân Binh Chủng bạn nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng chống lại các lực lượng của Cộng Sản Bắc Việt để bảo vệ miền Nam Việt Nam cho đến những giờ phút sau cùng.
Advertisement
Như đã trình bày ở trên, Nha Kỹ Thuật được hình thành và phát triển do nhu cầu chiến lược của hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ. Do đó, kể từ đầu năm 1964 cho đến hết ngày 31/12/1970, tổ chức và danh xưng được thay đổi theo tình hình chính trị và quân sự đòi hỏi. Vào tháng 6/1970, theo văn thư chính thức của Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH phổ biến thì Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt và các đơn vị trực thuộc sẽ chính thức giản tán vào ngày 31/12/1970. BTL/LLÐB sẽ chuyển cho Nha Kỹ Thuật/BTTM 1650 quân nhân gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của BTL/LLÐB, Ðại Ðội Tổng Hành Dinh LLÐB, Ðại Ðội Truyền Tin, Ðại Ðội Quân Y, các Toán C, các Toán B và Biệt Ðội Quân Cảnh 207.
Căn cứ vào số 1650 quân nhân các cấp do LLÐB chuyển, BCH/NKT tái tổ chức đơn vị kể từ ngày 1/1/1971 như sau:
BỘ CHỈ HUY / NKT
• Giám Đốc – Đại tá Đoàn Văn Nu
• Phụ Tá Điều Hành – Đại tá Trần Xuân Đức
• Văn Phòng Giám Đốc – Đại úy Nguyễn Đình Phong
• Sở Hành Quân & Tình Báo
• Phòng Tình Báo
• Phòng Hành Quân & Huấn Luyện
• Phòng Truyền Tin
• Sở Hành Chánh & Tiếp Vận
• Phòng Nhân Viên
• Phòng Tài Chánh
• Phòng Tiếp Vận
• Sở Tâm Lý Chiến
• Phòng Chính Huấn
• Phòng Tâm Lý Chiến
• Phòng Xã Hội
• Phòng An Ninh
• Ðài Tiếng Nói Tự Do
• Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc
• Phòng Công Tác
• Đại Đội Công Vụ/NKT
• Đại Đội Truyền Tin/NKT
• Đại Đội Quân Y/NKT
• Biệt Đội Quân Cảnh 207

a) Sở Liên Lạc / NKT • Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội Yểm Trợ & Công Vụ
• Ðoàn 1 / Liên Lạc
• Ðoàn 2 / Liên Lạc
• Ðoàn 3 / Liên Lạc 

b) Sở Phòng Vệ Duyên Hải / NKT • Sở Phòng Vệ Duyên Hải / NKT
• Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội An Ninh
• Lực Lượng Biệt Hải
• Lực Lượng Hải Tuần
• Toán Bảo Trì & Sửa Chữa I Nhất Cấp 

c) Sở Không Yểm / NKT • Bộ Chỉ Huy
• Phi Ðoàn Vận Tải C-130
• Phi Ðoàn Vận Tải C-123
• Phi Ðoàn Quan Sát
• Phi Ðoàn Trực Thăng
Ghi Chú: Vì lý do Hoa Kỳ thay đổi chính sách về Việt Nam và chuẩn bị rút quân về Mỹ nên đã không bàn giao các loại phi cơ nói trên cho Sở Không Yểm. Chỉ có Phi Ðoàn 219 Trực Thăng là vẫn tăng phái cho Sở Không Yểm/NKT cho đến ngày 30/4/1975 mà thôi. d) Sở Công Tác / NKT • Bộ Chỉ Huy
• Ðại Ðội Yểm Trợ & Công Vụ
• Ðoàn 11/SCT
• Ðoàn 68/SCT
• Ðoàn 71/SCT
• Ðoàn 72/SCT
• Ðoàn 75/SCT e) Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành) • Bộ Chỉ Huy
• Khối Hành Quân & Huấn Luyện
• Khối Hành Chánh & Tiếp Vận
• Khối Chiến Tranh Chính Trị Vào tháng 7/1970, Ðại tá Ðoàn Văn Nu, Giám Ðốc/NKT lên Dinh Ðộc Lập thuyết trình cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Tối Cao của QLVNCH về cơ cấu tổ chức của Nha Kỹ Thuật, được Tổng Thống chấp thuận và đặt tên cho NKT là Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ.
Cấp bậc và quyền hạn của Giám Ðốc NKT ngang với Tư Lệnh của Sư Ðoàn Bộ Binh cấp Thiếu tướng. Tuy nhiên, Ðại tá Giám Ðốc NKT xin Tổng Thống cho phép vẫn giữ danh xưng Nha Kỹ Thuật mà thôi vì lý do bảo mật công tác. Nha Kỹ Thuật BTTM QLVNCH vẫn duy trì các công tác của đơn vị cho đến sáng 30/4/1975 khi cùng các Quân Binh Chủng bạn bị bức tử mới chấm dứt./.

“Sự hy sinh của các chiến sĩ Nha Kỹ Thuật thực sự không thể diễn tả được bằng lời nói hay bằng ngòi viết. Họ là những anh hùng vô danh mà quốc gia Việt Nam đã không hề biết đến, vì họ đã hoạt động trong bóng tối, ngoài sự hiểu biết của mọi người. Họ đã âm thầm bảo vệ đất nước mà chính đất nước cũng chưa có một lời nào nhắc nhở hay vinh danh họ. Bây giờ, tuy đã trễ đối với đất nước Việt Nam, nhưng chúng ta hiện còn sống sót hôm nay không thể không nhắc nhở và vinh danh họ, ít nhất là trong tâm hồn và ý nghĩ của chúng ta.” (Trích đoạn từ Ðặc San NKT 2004 – Thiếu tá Lữ Triệu Khanh / CVP Giám Ðốc NKT / BTTM / QLVNCH).
Trần Kim Khánh / NKT BTTM / QLVNCH & Bùi Thượng Khuê Thế Hệ 2 NKT.

Mùa Hội Ngộ 2010
Lực lượng Đặc biệt
Việt Nam Cộng hòa
Huy hiệu.
Hoạt động 1956–1970
Quốc gia Việt Nam Cộng hòa
Phục vụ Quân lực VNCH
Quân chủng biệt kích
Phân loại Quân thường trực
Bộ phận của Bộ Tổng Tham mưu
Khẩu hiệu -Danh dự
-Dũng cảm
Tham chiến chiến tranh phi quy ước
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng –Lê Quang Tung
–Phan Đình Thứ
–Đoàn Văn Quảng
–Phạm Văn Phú

Lực lượng đặc biệt (Tiếng Anh: Army of the Republic of Vietnam Special Forces, ARVNSF) – viết tắt: LLDB – là một đơn vị quân sự tinh nhuệ đặc biệt của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Khởi đầu là các toán biệt kích được huấn luyện để hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của đối phương, chủ yếu để làm các nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo, bắt cóc, phá hoại các mục tiêu quân sự. Về sau, lực lượng này phát triển thêm thành đơn vị tác chiến, có vai trò như một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Mục lục
1 Tổ chức tiền thân
2 Hình thành Lực lượng Đặc biệt
3 Năm biến cố 1963
4 Trở thành Binh chủng
5 Bị giải thể
6 Danh sách các tư lệnh qua các thời kỳ
7 Chú thích
8 Xem thêm
9 Liên kết
10 Tham khảo
Tổ chức tiền thân
Bài chi tiết: Sở Liên lạc, Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
Tháng 2 năm 1956, sau khi tiếp nhận căn cứ GCMA (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés, Lực lượng Biệt kích Không vận Hỗn hợp)’ của Pháp tại Nha Trang, với sự trợ giúp của Phái bộ Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group–MAAG) Mỹ tại Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho thành lập Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội, nhằm xây dựng cơ sở huấn luyện biệt kích cho Việt Nam Cộng hòa. Về tổ chức, Trung tâm này được đặt dưới quyền quản lý của Nha Tổng Nghiên Huấn, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
Cuối năm 1956, theo khuyến cáo của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã giải thể Nha Tổng Nghiên Huấn[1]. Các bộ phận Tình báo Chiến lược và Phản gián được chuyển về cho Sở Nghiên cứu Chính trị Xã hội. Bộ phận Biệt kích được chuyển về cho một tổ chức mới là Sở Liên lạc, trực thuộc Phủ Tổng thống, ngân sách do Mỹ đài thọ. Đại tá Rogers là người đầu tiên được cử đến làm cố vấn cho Sở này, sau đó Đại tá Floyld Parker đến thay thế. Giám đốc và Phó giám đốc Nha Tổng Nghiên Huấn là Trung tá Lê Quang Tung và Đại úy Trần Khắc Kính được bổ nhiệm làm Giám đốc và Phó giám đốc Sở Liên lạc[1]. Tháng 4 năm 1960, Sở Liên lạc được đổi tên thành Sở Khai thác Địa hình. Tuy nhiên, chức năng, tổ chức và nhân sự của Cơ quan này vẫn không có gì thay đổi.

Hình thành Lực lượng Đặc biệt
Trên thực tế, Sở Khai thác Địa hình tập trung vào công tác tuyển mộ, huấn luyện biệt kích. Chính do nhiệm vụ này, trong các phòng chuyên môn, Phòng 45 hay Sở Bắc, phụ trách các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc; và Phòng 55 hay Sở Nam, phụ trách các hoạt động biệt kích trong lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, đóng một vai trò rất quan trọng. Ngoài ra, từ năm 1961, Sở còn thành lập thêm một số đại đội biệt kích dù biệt lập để làm thành phần hỗ trợ, ứng cứu cho những toán nhảy qua Lào hay ở những vùng biên giới nguy hiểm.
Bên cạnh đó, một nhiệm vụ khác, tuy không chính thức, nhưng được xem là ưu tiên nhất của Sở Liên lạc là chỉ huy lực lượng cơ động tinh nhuệ chuyên dùng để bảo vệ Phủ Tổng thống chống những cuộc đảo chính. Chính vì vậy, mặc dù các hoạt động tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc tỏ ra kém hiệu quả, quân số của Liên đoàn Quan sát số 1 vẫn phát triển không ngừng. Tháng 11 năm 1961, Liên đoàn Quan sát số 1 được đổi tên thành Liên đoàn 77. Tháng 2 năm 1963, Liên đoàn 31 được thành lập. Ngày 15 tháng 3 năm 1963, Tổng thống Diệm ra quyết định thành lập Lực lượng Đặc biệt trên cơ sở bộ máy của Sở Khai thác địa hình và 2 đơn vị tác chiến là Liên đoàn Biệt kích 77 và 31. Về nguyên tắc, Lực lượng Đặc biệt được chuyển thuộc Bộ Quốc phòng, có quy mô tương đương cấp lữ đoàn, nhưng trên thực tế, Tổng thống có toàn quyền điều động đơn vị này thông qua một cơ quan chỉ huy trực tiếp là Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống, mà thực chất chính là Bộ chỉ huy Lực lượng Đặc biệt, do Đại tá Lê Quang Tung làm Chỉ huy trưởng.
Năm biến cố 1963
Xem thêm: Biến cố Phật giáo, 1963 và Đảo chính Việt Nam Cộng hòa 1963
Được xem là một đơn vị tinh nhuệ và tuyệt đối trung thành với Tổng thống, trong Biến cố Phật giáo, 1963, Lực lượng Đặc biệt được cố vấn Ngô Đình Nhu sử dụng như lực lượng xung kích tấn công các chùa, đặc biệt là chùa Xá Lợi. Mặc dù vậy, Lực lượng Đặc biệt hoàn toàn bị vô hiệu hóa trong đảo chính năm 1963 khi Chỉ huy trưởng Lê Quang Tung bị giết chết ngay khi cuộc đảo chính vừa nổ ra. Trước đó, bằng một thủ pháp nhỏ, các tướng lãnh tham gia đảo chính đã điều các đơn vị thuộc Lực lượng Đặc biệt ra khỏi Sài Gòn. Mất đi lực lượng cơ động trung thành và tinh nhuệ này, Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu không còn cách nào khác ngoài việc đào tẩu khỏi Dinh Độc Lập. Cả hai ông đều bị giết chết trong hoàn cảnh bí ẩn không lâu sau đó.

Trở thành Binh chủng
Sau đảo chính, Phòng Liên lạc Phủ Tổng thống bị giải tán. Lực lượng Đặc biệt cũng được phân chia thành nhiều đơn vị khác nhau. Sở Bắc được tách riêng để hình thành một cơ quan độc lập trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Phòng ban khác cũng được giải thể và phân bổ vào các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng. Riêng các đơn vị tác chiến được tập hợp để hình thành một đơn vị độc lập với bộ chỉ huy riêng.
Tháng 7 năm 1964, Liên đoàn 31 được đổi tên thành Liên đoàn 111 và Liên đoàn 77 được đổi tên thành Liên đoàn 301. Tất cả đều đặt dưới quyền Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc biệt.
Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Liên đoàn Biệt kích 111 và 301 bị giải tán. Các đơn vị chiến đấu được sắp xếp lại để chính thức hình thành Binh chủng Lực lượng Đặc biệt, gồm một Bộ Tư lệnh, một Đại đội Tổng Hành dinh, một Trung tâm Huấn luyện, và 4 Bộ Chỉ huy (C) ở 4 Quân khu. Mỗi C có một số B và mỗi B có một số toán A quân số vào khoảng 12 người. Ngoài ra, các đại đội biệt kích dù độc lập cũng được tập hợp thành Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù, cũng được đặt dưới quyền điều động của Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt. Tổng cộng quân số Lực lượng Đặc biệt vào khoảng 5.000 trong thời điểm đó.
Cũng từ thời điểm này, các đơn vị Lực lượng Đặc biệt của đồng minh Hoa Kỳ là Liên đoàn 1, sau đó là Liên đoàn 5 tham chiến tại chiến trường miền Nam. Lực lượng Đặc biệt của Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức các toán biệt kích nhỏ phối hợp với các toán biệt kích Mỹ hỗ trợ cho các trại Dân sự Chiến đấu dọc theo vỹ tuyến 17 và ranh giới giữa Nam Việt Nam với Lào, Campuchia. Từng toán một, được trang bị vũ khí hiện đại với chiến thuật trinh sát và đột kích các đơn vị của đối phương trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới.
Ngày 1 tháng 4 năm 1968, Tiểu đoàn 91 Biệt cách Dù được đổi tên thành Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù. Một cơ quan tham mưu là Trung tâm Hành quân Delta được thành lập để giúp Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt chỉ huy hành quân các toán biệt kích và đơn vị Biệt cách Dù.
Bị giải thể
Cuối tháng 12 năm 1970, do các hoạt động tung biệt kích ra miền Bắc hoặc các vùng biên giới do phía Quân đội Nhân dân Việt Nam kiểm soát không có hiệu quả, Lực lượng Đặc biệt bị giải tán. Các sĩ quan và binh lính được chuyển sang các đơn vị khác, chủ yếu về Lực lượng Biệt động quân. Riêng Trung tâm Hành quân Delta và Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù được sáp nhập lại để hình thành Liên đoàn 81 Biệt cách Dù. Huy hiệu của Lực lượng Đặc biệt cũng trở thành huy hiệu của Liên đoàn 81.

Danh sách các tư lệnh qua các thời kỳ
Stt Họ và tên Cấp bậc Tại chức Chú thích
1 Lê Quang Tung[2]
Võ khoa Thủ Đức K3p[3] Đại tá[4] 3/1963-11/1963 Tư lệnh đầu tiên. Bị sát hại trong Đảo chính ngày 1/11/1963
2 Lê Văn Nghiêm
Võ bị Lục quân Pháp Trung tướng 11/1963-2/1964
3 Phan Đình Thứ
Võ bị Lục quân Pháp Đại tá 2/1964-8/1964 Tư lệnh lần thứ 1
4 Đoàn Văn Quảng
Võ bị Lục quân Pháp Đại tá 8/1964-7/1969
5 Phan Đình Thứ Đại tá 7/1969-1/1970 Tư lệnh lần thứ 2
6 Phạm Văn Phú
Võ bị Đà Lạt K8 Chuẩn tướng 1/1970-8/1970
7 Hồ Tiêu[5]
Võ bị Địa phương
Trung Việt K2 (Đập Đá Huế) Đại tá 8/1970-12/1970 Tư lệnh cuối cùng
Chú thích
^ Lữ Giang, “Ai đã giết anh em Đại tá Lê Quang Tung? Những câu hỏi và trả lời 47 năm sau”.
^ Đại tá Lê Quang Tung, sinh năm 1919 tại Hương Trà, Thừa Thiên.
^ Xuất thân từ Trường Sĩ quan.
^ Cấp bậc khi nhậm chức.
^ Đại tá Hồ Tiêu, sinh năm 1922 tại Quảng Trị.
MACVSOG
Nha Kỹ thuật, Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Lực lượng Biệt động quân Việt Nam Cộng hòa
Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy Dù
Liên kết
Tucker, Spencer C. (2000). Encyclopedia of the Vietnam War. ABC-CLIO. ISBN1-57607-040-9.
Lữ Triệu Khanh, “Lịch sử Nha Kỹ thuật”
Vũ Đình Hiếu, “Cuộc chiến bí mật”
Tham khảo
Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa. 

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA MẸ VIỆT NAM ƠI ... CHÁU CON ...MAI SẼ VỀ MỘT NÉN HƯƠNG CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG 51 NĂM - CHIẾN TRƯỜNG CUỐI CÙNG THÁNG 4 ĐEN P3

*Tướng Trần Văn Đôn kể lại những biến cố, sự kiện trong ngày 28/4/1975
Theo lời kể của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn ghi lại trong Việt Nam Nhân Chứng, trong buổi lễ bàn giao, ông Dương Văn Minh đã “trầm tĩnh đọc bản tuyên bố đường lối của mình là “sẽ chấm dứt chiến tranh bằng cách thương thuyết và hòa giải với Mặt trận Giải phóng miền Nam”. Vào 6 giờ chiều, cuộc lễ xong, ông Minh tiễn cụ Trần Văn Hương ra cổng. Nhà của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn ở gần dinh Độc Lập nên chỉ vài phút sau ông đã về đến nhà, lại nghe “tiếng nổ ầm ầm, súng bắn lung tung, phi cơ bay. Trên dinh Độc Lập. Nưả giờ sau, tiếng súng ngưng nổ, tiếng động cơ máy bay nhỏ dần rồi im lặng. Tướng Đôn điện thoại cho Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tư lệnh Không quân thì được báo cáo có 3 phi cơ của Không quân VNCH bị bỏ lại ở Đà Nẵng và Việt Cộng đã sử dụng để bay vào Sài Gòn dội bom. Hai phản lực cơ F-5 của Không quân đã bay lên nghinh chiến đuổi 3 phi cơ này. (Tài liệu của Đại tướng Cao Văn Viên cho biết đó 3 phi cơ tham gia cuộc dội bom là phản lực cơ A-37).
Cũng theo lời kể của cựu Trung tướng Trần Văn Đôn, trước lễ bàn giao chức vụ Tổng thống VNCH diễn ra vào buổi chiều 28/4/1975, thì vào 8 giờ sáng ngày 28 tháng 4, cựu Trung tướng Đôn đã đến văn phòng Tổng tham mưu trưởng như thường lệ gặp Đại tướng Cao Văn Viên để theo dõi tình hình quân sự. (Theo tài liệu ghi trong Quân sử VNCH, vào năm 1955, ông Trần Văn Đôn là Thiếu tướng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu , ông Cao Văn Viên là Thiếu tá, giữ chức vụ Trưởng phòng 4 Bộ Tổng Tham mưu).
Trong cuộc gặp nói trên, Tướng Viên nhắc với Tướng Đôn rằng Tổng thống Trần Văn Hương đã ký sắc lệnh cho ông nghỉ, do đó, ông yêu cầu Tướng Đôn với chức danh là Tổng trưởng Quốc phòng, cử người thay thế. Ngay lúc đó, có điện thoại của ông Dương Văn Minh gọi cho Tướng Đôn, dặn ông cố gắng giữ Tướng Viên ở lại chức vụ Tổng Tham mưu trưởng, đừng cho Tướng Viên đi.
Trước sự việc như thế, Tổng trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn không biết xử sự làm sao vì Tướng Viên đã được Tổng thống Trần Văn Hương cho nghỉ ( sắc lệnh này được Tổng thống Trần Văn Hương công bố vào chiều ngày 28/4/1975). Tướng Đôn hỏi Tướng Viên:
-Nếu anh đi, thì theo anh ai sẽ thay thế được ?
Tướng Viên không trả lời thẳng mà hỏi lại Tướng Đôn:
-Anh sẽ làm gì ?
Tướng Đôn trả lời:
-Tôi cũng chưa quyết định. Mấy ngày trước ông Minh và ông Mẫu muốn tôi tiếp tục giữ ghế Tổng trưởng Quốc phòng nhưng tôi chưa trả lời, nay ông Minh cho tôi biết Hà Nội không muốn có người nào trong nội các cũ ở lại trong nội các mới.”
Về lại văn phòng, Tướng Đôn nhận được điện thoại của ông Dương Văn Minh hủy bỏ sắc lệnh mà Tổng thống Trần Văn Hương đã ký cho phép Tướng Viên nghỉ dài hạn không lương, nhưng sắc lệnh đó Tổng thống Trần Văn Hương đã ký trước khi bàn giao chức vụ Tổng thống.
*Chức vụ Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH vào những ngày cuối tháng 4
Về chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Quân lực VNCH, như đã trình bày, sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào tối 21 tháng 4/1975, và sau cuộc rút quân khỏi Xuân Lộc, Đại tướng Cao Văn Viên không còn thiết tha với chức vụ Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH, trong khi đó, tân Tổng Thống Trần Văn Hương lại muốn bổ nhiệm Đại tướng Cao Văn Viên làm Tổng tư lệnh Quân đội với đầy đủ quyền hạn, so với chức vụ Tổng Tham mưu trưởng mà Đại tướng Viên đã nắm giữ từ tháng 10/1965. Thế nhưng, Đại tướng Cao Văn Viên đã trình xin Tổng Thống Trần Văn Hương cho ông được giải nhiệm. Tổng thống Trần Văn Hương không đồng ý và yêu cầu Đại tướng Viên tiếp tục giữ chức vụ. Chỉ đến khi Tổng Thống Trần Hương trao quyền cho ông Dương Văn Minh thì Đại tướng Viên mới nhận được quyết định giải nhiệm. Kể lại chuyện này, Đại tướng Cao Văn Viên ghi trong hồi ký như sau: “Trước khi Tổng Thống Hương bước xuống, Tổng Thống đưa ra một sắc lệnh giải nhiệm tôi khỏi chức vụ Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham Mưu. Đến khi tân Tổng Thống (cựu Đại tướng Dương Văn Minh) muốn chọn người thay thế tôi, tôi đề nghị Tướng Đồng Văn Khuyên, lúc ấy đang giữ chức Tham mưu trưởng Bộ Tổng Tham mưu kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận”.
*Tình hình chiến sự trong ngày ông Dương Văn Minh nhận chức Tổng Thống
 
Tình hình chiến sự trong ngày 28/4/1975 ghi nhận nhiều diễn biến dồn dập. Cộng quân đã tung thêm lực lượng áp sát vòng đai SàiGòn.Tại Bình Dương, sau khi đã đưa một sư đoàn vào khu Đông Nam và tấn công vào các khu vực Phú Giáo, Tân Uyên, Cổ Mi, Cộng quân đãđiều động 2 sư đoàn thuộc Quân đoàn 1 CSBV tiến sát đến các tuyến phòng tuyến do các trung đoàn 7, 8, 9 của Sư đoàn 5 Bộ binh. Trong các trận đánh tại BìnhDương vào 10 ngày cuối của tháng 4/1975, nổi bật nhất là trận Bến Sắn giữa sư đoàn 5 Bộ binh và 1 sư đoàn chủ lực Quân đoàn 1 củaCộng quân. Cộng quân muốn chiếm Bến Sắn để từ đó chọc thủng mặtđông của tỉnh Bình Dương và mặt tây của tỉnh Biên Hòa nhưng đã bịsự kháng cự mãnh liệt của Sư đoàn 5 Bộ binh, Cộng quân bị tổn thất nặng.
Cũng trong ngày 28/4/1975, Căn cứ Không quân Biên Hòa bị pháo kích dữ dội. Theo tài liệu của Đại tướng Cao Văn Viên, tất cả các phi cơ tại căn cứ này đều đã được dời qua phi trường Tân Sơn Nhất hay xuống phi trường Trà Nóc ở miền Tây. Sư đoàn 3 Không quân bắt đầu phá hủy những phương tiện còn lại trong căn cứ Biên Hòa.
 
28-4-1975 Sư đòan 5 BB tử chiến:
*Sư đoàn 5 Bộ binh tử chiến tại Bình Dương
-Ngày 28/4/1975, sau khi chận đứng được đợt tấn công tại khu đông tỉnh Bình Dương, Sư đoàn 5 Bộ binh đã tử chiến để đối đầu với 2 sư đoàn Cộng quân từ hướng Chơn Thành-An Lộc. (Trước tháng 4/1975, phòng tuyến chính ở An Lộc và Chơn Thành do 2 liên đoàn Biệt động quân, 2 tiểu đoàn Địa phương quân án ngữ. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến, trước áp lực của Cộng quân, lực lượng Biệt động quân đã rút từ An Lộc về hợp cùng các đơn vị Địa phương quân, Nghĩa quân của Chơn Thành lập phòng tuyến mới tại nam Chơn Thành và đã chống trả quyết liệt các đợt tấn công của địch quân muốn chọc thủng phòng tuyến này).
* Trận chiến tại Vũng Tàu
-Tại phòng tuyến Vũng Tàu, căn cứ Cát Lở và Trung tâm huấn luyện Chí Linh bị pháo kích. Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh kiêm Tư lệnh mặt trận Vũng Tàu, đã ra thông cáo thiết quân luật từ 19 giớ đến 6 giờ sáng.
*Cụ Trần Văn Hương bàn giao chức vụ Tổng thống VNCH cho ông Dương Văn Minh
-Chiều ngày 28/4/1975, tại Dinh Độc Lập, cụ Trần Văn Hương trao quyền Tổng thống VNCH cho ông Dương Văn Minh theo quyết định của Quốc hội VNCH trong phiên họp chiều ngày 27/4/1975.
 
Thứ ba 29-4-1975
Vào lúc 4 giờ Sáng ngày 29, Cộng quân pháo kích nhiều trái đạn đại bác 13O ly và hoả tiễn 122 ly vào khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH và Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Bến Bạch Đằng. Cuộc pháo kích này đã gây nhiều tổn thất quan trọng tại phi trường Tân Sơn Nhứt: một chiếc C-13O của Không Lực Hoa Kỳ bị trúng đạn khi sắp sửa cất cánh, hai chiếc C-13O khác chở người ty nạn may mắn đã cất cánh trước đó chừng vài ba phút vâ hai binh sĩ Thủy Quân lục Chiến Hoa Kỳ, hạ sĩ Darwin Judge và bạ sĩ Cbarles McMahon, vừa mới được đưa đến Sài Gòn cách đó 10 ngày để phụ trách về an ninh cho chiến dịch di tản Mỹ kiều, bị tử thương trong vòng đai phòng thủ phi trường. Hai binh sĩ này là hai người Mỹ cuối cùng bị thiệt mạng trong lịch sử Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam trong hai thập niên.
Một điều đáng chú ý là dường như McMahon là một cái tên định mệnh: người Mỹ đầu tiên bị chết tại Việt Nam là Trung Tá Peter Dewey, nhân viên của cơ quan tình báo OSS, là một người Mỹ rất ủng hộ Việt Minh, ông ta đã nhiều lần lên tiếng phản đối người Pháp và tiếp xúc trực tiếp với các đại diện của Việt Minh, do đó đã bị người Pháp yêu cầu phải rời khỏi Sài Gòn. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trung Tá Dewey phải trở về Ấn Độ, tuy nhiên vì máy bay bị trục trặc, ông từ phi trường Tân Sơn Nhứt lái xe trở về Sài Gòn ăn trưa và đã bị tự vệ của Việt Minh tưởng lầm là người Pháp cho nên bắn chết tại cầu McMahon, lúc đó người Việt Nam gọi là cầu “Bạc Má Hồng,” sau này là cầu Công Lý. Đúng 3O năm sau thì người Mỹ cuối cùng bị giết chết tại phi trường Tân Sơn Nhứt vì đạn pháo kích của quân Cộng sản Bắc Việt vào rạng sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 là một hạ sĩ quan Mỹ cũng mang tên là McMahon, cái tên mà người Việt ngày xưa đã gọi là ” bạc má hồng “.
Sau trận pháo kích này, kế hoạch di tản người Mỹ và người Việt ty nạn bằng phi cơ C-13O xem như là bị huỷ bỏ hoàn toàn vì phi trường Tân Sơn Nhứt đã bị hư hại nặng nề.
Đến 10 giờ 3O sáng, Tướng Homer Smith, Tuỳ Viên Quân Lực tại Sài Gòn, gọi điện thoại cho ĐÔ Đốc Noel Gayler, Tổng Tư Lệnh Quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương tại Honolulu báo cáo rằng phi trường Tân Sơn Nhứt không còn ở trong tình trạng sử dụng được nữa. Tin này được trình lên cho Bộ Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger đang tham dự phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các tại Bạch Cung và ông ta đã phúc trình ngay cho Tổng Thống Ford.
Vào lúc 7 giờ sáng tại Washington tức là 7 giờ tối tại Sài Gòn, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia đã triệu tập một phiên họp khẩn cấp dưới quyền chủ toạ của Tổng Thống Gerald Ford với sự hiện diện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, Bộ Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger, Đại Tướng George Brown, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân (Jcs) và ông William Colby, Tổng Giám Đốc Cơ Quan Tình Báo CIA. Phiên họp đặc biệt này nhắm vào việc tìm giải pháp hữu hiệu để di tản những người Mỹ còn lại ở Sài Gòn. Ngoại trưởng Kissinger bác bỏ đề nghị sừ dụng khu trục cơ để hộ tống cho phi cơ vận tãi C-13O, ông nói rằng nên thận trọng không có những hành động tấn công gây hấn để gây hiểu lầm cho Hà Nội trong lúc này. Sau cùng thì hội đồng chấp thuận đề nghị dung hoà của Đại Tướng George Brown, đó là thử dùng 7 phi cơ C-13O từ Phi Luật Tân và Thái Lan bay đến phi trường Tân Sơn Nhứt, nếu những phi cơ này còn đáp xuống được thì chiến dịch di tản bằng phi cơ có cánh sẽ tiếp tục, tuy nhiên trong trường hợp phi đạo không còn sử dụng được thì phải quay sang sử dụng kế hoạch cuối cùng, đó là kế hoạch “Frequent Wind: Option-IV”.
Đến 9 giờ 45 sáng, Tổng Thống Ford đã triệu tập một phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội các tại Bạch Cung. Mở đầu phiên họp, Tổng Thống Ford nói rằng “trong hai tuần lễ vừa qua, Hoa Kỳ đã gặp phải rất nhiều khó khăn. Tuy cho đến giờ này thì việc di tản đang diễn ra một cách tốt đẹp nhưng chúng ta cũng vẫn chưa thoát ra đước những khó nhăn có thể xảy ra. Mục tiêu của chúng ta là ngăn không để cho hốn loạn xẩy ra tại Nam Việt Nam rồi sẽ gây ra nguy hiếm cho việc di tản của người Mỹ, ngăn chận những hoạt động của Bắc Việt và gữ cho tình hình đựơc ổn địnb nhằm hoàn tất cuộc di tản.
“Ngoại trưởng Kissinger phúc trình rằng cho đến giờ này (9 giờ 45 tối tại Sài Gòn), chỉ còn có khoảng tư 300 đến 400 người Mỹ còn đang hoạt động trong khuôn viên toà đại sứ Hoa Kỳ và trong hơn hai ngày qua, có bơn 4,650 người đã được di tản ra khỏi Sài Gòn, nâng tổng sổ người đựơc Hoa Kỳ di tản lên đến con số gần 45, 000 người, trong số này chỉ có từ 500 đến 60O là người Mỹ.
“Bộ trưởng Quốc phòng James Schlesinger báo cáo rằng còn có khoảng 700 người tại trụ sở của Văn Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ tại Tân Sơn Nhứt nhưng phi cơ vận tãi C 13O không thể đáp xuống được nữa, do đó phải di tản bằng trực thăng từ trên sân trhựơng của toà đại sứ. Ông cho biết thêm rằng vấn đề này cũng gặp phải khó khăn vì chỉ có hai chiếc trực thăng có thể đáp xuống cùng một lúc và quân Bắc Việt đã bắn vào trực thăng di tản.
“Ngoại Trưởng Kissinger nói rằng mặc dù Tổng thống Ford đã ra lệnh là chỉ di tản người việt Nam nếu các phi cơ vận tãi C-130 còn đáp xuống đựơc phi trường Tân Sơn Nhứt và trong trường hợp không còn sử dụng phi cơ C-130 nữa thì chỉ di tản người Mỹ mà thôi, tuy nhiên tại Sài Gòn Đại Sứ Martin và thiếu Tướng Homer Smith đã quyết định vẫn tiếp tục di tản cả những người Việt Nam còn đang có mặt trong toà đại sứ Hoa Ky.
“Tổng Thống Ford nhấn mạnh rằng ông muốn phải di tản ít nhất là tủ 43,OOO cho đến 45,000 người Việt Nam ra khỏi miền Nam Việt Nam.
“Bộ Trưởng Morton hỏi Tổng thống Ford: “những người Việt Nam đựơc di tản này sẽ đựợc đưa đi đâu và trong số này có bao nhiêu người là thuộc thành phần “chuyên nghiệp và có học” (white collar)?
Tổng thống Ford trả lời rằng Bộ ngoại Giao đang lo giải quyết vấn đề này và sẽ có 3 căn cứ quân sự tại Hoa Kỳ đang đựợc chuẩn bị để đón người tỵ nạn. Tổng thống Ford cũng cho biết rằng theo Ngoại trưởng Kissinger thì một số các quốc gia khác đã đựơc Hoa Kỳ tiếp xúc để đón tiếp một số người ty nạn, tuy nhiên có lẽ Hoa Kỳ sẽ đón nhận 90 phần trăm số người này.
“Ngoại trưởng Kissinger nói rằng cũng khó mà biết rõ được số người tỵ nạn có đủ trình độ Nghề nghiệp” và “học vấn” là bao nhiêu tuy nhiên ông đoán chắc rằng có lẽ con số này cũng khá cao. Về đề nghị của Bộ Trưởng Norton dự định đưa một số khoảng 5,OOO người tị nạn Việt Nam sang Lãnh Thổ Giám Hộ tại Thái bình Dương (Pacific trust Territories) của Hoa Kỳ, nơi đó có lẽ sẽ cần đến tài năng của những người ty nạn này thì Ngoại Trưởng Kissinger nhận xét rằng “đó có vẻ là một ý kiến bay”.
Đó là những chi tiết về phiên họp đặc biệt của Hội Đồng Nội Các Hoa Kỳ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975 và Tổng Thống Ford tuyên bố bế mạc phiên họp vào lúc 10 giờ rưỡi sáng, tức là 10 giờ rưỡi tối tại .Sài Gòn, khoảng hơn 12 tiếng đồng hồ trước khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng” *194
Sáng ngày 29 tháng 4, ‘”thủ tướng” Vũ Văn Mẫu đã đọc đi đọc lại liên tục trên Đài Phát thanh Sài Gòn một bản thông cáo của tân Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ. Bản thông cáo đó là Văn thư Số O33-TT/VT của Phủ Tổng Thống nguyên văn như sau:
 
“Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà
Kính gởi: ông Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Thưa ông Đại Sư
Tôi trân trọng yêu cầu ông Đại Sư vui lòng chỉ thị cho nhân viên của Cơ Quan Tùy Viên Quân Sự DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 tiếng đồng hồ kể từ ngày 29 4-1975 để vấn đề Hoà bình Việt Nam sớm được gỉai quyết.
Trân trọng kính chào ông Đại Sư
SAIGON, ngày 28 tháng 4 năm 1975
Ký tên và đóng dấu:
Việt Nam Cộng Hoà-Tổng Thống
Đại Tướng Dương Văn Minh “
*194: “cabinet Meeting Minutes. April 29. 1975. Giải mật ngày 12 tháng 10 năm 1990. Tài liệu “Box 4, James E. Connor Files,” lưu trữ tại Thư
Viện Gerald Ford tại Grand Rapids, tiểu bang Michigan.
Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin đã phúc đáp như sau:
 
“Thưa Tổng Thống,
Tôi đã nhận được văn thư nói trên và tôi đã ra chỉ thị thi hành đúng như lởi yêu cầu của Tổng Thống.
Tôi tin rằng Tổng thống sẽ ra lệnh cho các lực lượng quân đội của chính phủ cộng tác trên mọi phương diện để giúp cho sự triệt thoái của các nhân viên Tòa Tuỳ Viên Quân Lực được dễ dàng và trong an toàn.
Tôi cũng xin bày tỏ sự hy vọng rằng Tổng thống sẽ can thiệp với phía bên kia để họ có thể cho phép các nhân viên Toà Tuỳ viên Quân Lực Hoa Kỳ được ra đi trong sự an toàn và trật tự.
Xin chúc Tổng thống đươc mọi sự lành.
Grabam Martin
Đại sứ Hoa Kỳ “
 
“Tổng thống“ Dương Văn Minh hân hoan đuổi được người Mỹ ra đi và hy vọng rằng sẽ có triển vọng để nói chuyện với “người anh em bên kia” của ông thì vào lúc 10 giờ sáng ngày hôm đó, Lê Duẩn đã gửi một điện văn “gửi anh Sáu, anh Bảy, anh Tuấn, anb Tư, đồng điện anh Tấn” như sau:
 
“Bộ Chính Trị và Quân Ủy đang họp thì được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngưng bắn. Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị:
1-Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch; tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.
2. Công bố đặt thành phố Sài Gòn-Gia Định dưới quyền của ủy Ban Quân Quản do tướng Trần Văn Trà làm chủ tịch. ‘
Sẽ có điện tiếp, nhận được điện trả lời ngay.
BA *
195
Như vậy thì Bộ Chính Trị Cộng sản Bắc Việt đã có quyết định “giải tán chính quyền các cấp của tổng thống “Dương văn Minh và đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng ” chứ không hề nói đến hai chữ ” bàn giao” mà ông Dương Văn Minh cùng với nhóm Hòa Giải Hòa Hợp của ông đang mong đợi. .
Sau khi phúc trình về Bộ Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương tại Hawaii, Tướng Smith trình cho Đại sứ Martin biết về vấn đề phi trường Tân Sơn Nhứt không còn có thể sử dụng được cho phi cơ vận tãi C-13O và ông Martin cuối cùng phải nhượng bộ vì cho đến ngày 29 tháng 4, ông đại sứ vẫn cương quyết chống lại lệnh di tản tức khắc tất cả người Mỹ ra khỏi Việt Nam của Bộ Ngoại Giao. Thâm ý của Đại sứ Martin là giữ người Mỹ lại để di tản càng nhiều người Việt Nam ra khỏi Sài Gòn thì càng tốt chừng đó. Đại sứ Martin gọi điện thoại thông báo cho Ngoại Trưởng Kissinger và ông Kissinger trình ngay cho tổng Thống Gerald Ford. Chỉ trong vòng vài phút, TT Ford ra lệnh cho thi hành Chiến dịch “Frequent Wind Option IV” tức là kế hoạch di tản toàn bộ người Mỹ ra khỏi Việt Nam vào lúc 10 giờ 51 phút sáng tại Sài Gòn.
Trước đó, vào lúc 1 giờ sáng giờ Washington tức là khoảng 1 giờ trưa ngày 29 tháng 4, Đại sứ Martin nhận được bức điện văn “thựơng khẩn” số White House 50782 ngày 29 tháng 4 nguyên văn như sau:
 
“Nơỉ gửi: White House
Nơi nhận: Toà Đại Sứ Hoa Kỳ-Saigon
Ngoại trưởng Henry A . Kissinger
Gửi đến: Đại Sứ Graham Marizn
1.”Tổng thống đã chủ tọa một phiên bọp của Hội đồng An ninh Quốc Gia và đã có những quyết định sau đây:
A.
Nếu ngày hôm nay mà phi trường Tân Sơn Nhứt còn có thể sử dụng đựơc cho các loại phi cơ có cánh (phi cơ vận tãi C-13O) thì ông Đại sứ được phép cho di tản những người Việt Nam được xếp vào thành phần có thể bị nguy hiếm đến tính mạng. Cho đến cuối ngày hôm nay ông đại sứ phải cho di tản tất cả nhân viên người Mỹ tại phi trường Tân Sơn Nhứt cũng như là tất cả những nhân viên ngoại giao tại tòa đại sứ, ngoại trừ một thiểu số tối cấn thiết cho nhiệm vụ di tản.
B.
Ông Đại Sứ không đựơc tiết lộ cho ai biết rằng hôm nay là ngày cuối cùng loại phi cơ vận tãi C-130 sẽ được sử dụng để di tản từ phi trường Tâ Sơn Nhứt.
C.
Nếu phi trường trở thành bất khiển dụng đối với phi cơ vận tãi và trở thành nguy hiểm nếu bị Cộng sản pháo kích, ông Đại Sứ phải tức khắc cho di tản tất cả – lập lại: tất cả- người Mỹ tại văn phòng Tùy Viên Quân Lực DAO và toà đại sứ bằng phương tiện trực trăng. Nếu cần thì các phi cơ chiến đấu vì các phi cơ chiến đấu sẽ yểm trợ và hoả lực sẽ được sử dụng để phòng vệ trong trường hợp các trực thăng bị tấn công trong khi thi hành việc di tản.
2. Đô Đốc Gayler, Tư lệnh Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, sẽ nhận được lệnh tương tự từ Bộ Quốc Phòng.
Trân trọng
Trong khi bản thông cáo của “Tổng Thống “ Dương Văn Minh đòi người Mỹ phải triệt thoái nhân viên của DAO được “Thủ Tướg” Vũ Văn Mẫu đọc đi đọc lại nhiều lần trên đài phát thanh Sài Gòn thì trên đài phát thanh của Quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam được gọi tắt là AFRS, vào buổi trưa một ngày cuối tháng 4 nóng bức, người xướng ngôn viên đọc đi đọc lại nhiều lần lởi nhắn: “Mother wants you to call home” (Mẹ muốn con gọi về nhà) và người dân Sài Gòn được nghe bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas “ (Tôi mơ một Giáng Sinh Đầy Tuyết Trắng) phát đi phát lại liên tục trong ngày hôm đó. Lời nhắn và bản nhạc này là mật hiệu báo cho tất cả mọi người Mỹ tại Sài Gòn biết rằng Chiến Dịch Frequent Operation IV đã khởi đầu và tất cả mọi công dân Hoa Kỳ đều phải đến những điểm hẹn đã ấn đinh sần từ trước để được di tản ra khỏi Việt Nam.
 
Trong ngày 29 tháng 4, hàng trăm trực thăng C-53 và C-46 đã từ Hạm Đội Thứ Bảy ngoài khơi bờ biển Việt Nam bay đến Sài Gòn di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người Việt Nam đang tập trung tại các địa điểm như Văn Phòng DAO ở Tân Sơn Nhứt, các cao ốc của người Mỹ và nhất là toà đại sứ Hoa Kỳ trên đại lộ Thống Nhất. Đại sứ Graham Martin không chịu di tản vì ông muốn ở lại toà đại sứ để
*196: “Secretary of State Henry Kissinger’s Cable on President Ford’s Decisions on the Saigon Evacuation, April 29, 1975.” (Công Điện của Ngoại Trưởng Henry Kissinger về Quyết Định của Tổng Thống Ford trong việc Di Tản Sài Gòn ngày 29 tháng 4 năm 1975). Tài liệu giải mật ngày 10 tháng 1 năm 2000, lưu trữ tại Thư Viện Gerald Ford, Grand Rapids, Michigan. kéo dài thời gian nhằm di tản thêm một số người Việt Nam dù rằng Ngoại trưởng Kissinger đã nhiều lần ra lệnh cho ông phải ra đi càng sớm càng tốt.
 
Vào lúc 11 giờ 40 tối 29 tháng 4, một toán chuyên viên chất nổ của Thuỷ Quân lục chiến Hoa Kỳ đã phá nổ toàn bộ Toà Tuỳ Viên Quân Lực DAO, tức là Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam gọi tắt là MAC-V trước năm 1973, nơi mà trong hơn 10 năm đã từng là biểu hiệu của sự cam kết của Hoa Kỳ với trên nửa triệu quân nhằm chống lại âm mưu thôn tính Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt. Sự phá huỷ cơ sở này, trước đây được giới báo chí gọi là “Ngũ giác Đài Phương Đông” (Pentagon East) là dấu hiệu cho biết rằng đối với người Mỹ, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc.
 
Cựu Tổng Thống Trần Văn Hương
Không Chịu Di Tản
Trong ngày 29 tháng 4, dù rất bận rộn trong việc di tản hàng chục ngàn người Mỹ và người ty nạn Việt Nam, Đại sứ Martin cũng đã tìm cách đến gặp Cụ Trần Văn Hương, cựu Tổng Thống VNCH tại Phủ Phó Tổng Thống trên đường Công Lý lần chót. Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc An, bạn thâm giao của Cụ Hương thì cuộc gặp gỡ này đã diễn ra như sau:
“Cũng ngày đó, 29 tháng 4 nam 1975, Đại sứ Hoa Kỳ, ông Martin đến tư dinh đường Công Lý với một tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp Đại khái đại sứ nói:
“Thưa Tổng Thống, tình trạng hiện nay rất nguy hiểm. nhơn danh chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi đến mời Tổng Thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào mà Tổng Thống muốn. Chánh phủ chúng tôi Cam kết bảo đám cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống trăm tuổi già. “
Tổng Thống Trần Văn Hương mỉm cười trả lời:
“Thưa Ngài Đại Sứ tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cám ơn ông đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỷ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng sản vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia xẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nổi thống khổ của người dân mất nước.
Cám ơn ông Đại Sứ đã đến viếng tôi”.
 
Khi nghe câu: “les États Unis ont aussi leur part de responsibilités (Hoa Kỳ cũng có phần trách niệm trong đó), Đại Sứ Martin giựt mình nhìn trân trân Ông Trần Văn Hương.
Năm 198O, ông thuật lại với tôi: “Dứt câu chuyện, on se sépare sans même se serrer la main” (chúng tôi từ giã nhau mà cũng chẳng có hề bắt tay nhau). *197
 
Đây không phải là lần đầu tiên cụ Trần Văn Hương từ chối lời mời di tản ra ngoại quốc. Trong cuốn hồi ký “Saigon et Moi”, cựu đại sứ Pháp Mérillon cho biết rằng trước ngày 28 tháng 4 năm 1975, ông ta có chuyển lời mời cụ Trần Văn Hương sang sinh sống ở Pháp sau khi giao quyền lại cho Dương Văn Minh thì cụ đã trả lời như sau:
“Ông đại sứ à, tôi đâu có ngán Việt Cộng. Nó muôn đánh, tôi sẽ đánh tới cùng. Tôi chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tôi, nước tôi mất, tôi thề sẽ ở lại đây và mất theo nước mình”.
*197: G.S. Nguyễn Ngọc An: “Cụ Trần Văn Hương” đăng trên Báo Thời Luận, không rõ ngày.
Cựu Đại úy Nguyễn Văn Nhựt, sĩ quan tùy viên của Phó Tổng Thống Trần Văn Hương cho người viết biết vào những ngày cuối cùng trong tháng 4 năm 1975, Cụ Trần Văn Hương đã nói với các anh em phục vụ tại Phủ Phó Tổng Thống rằng “thấy các em còn trẻ tuổi mà phải chịu hy sinh gian khổ vì chiến tranh “qua” rất thương, tuy nhiên sổ phận của đất nủớc mình là như vậy, mình phải đánh cho tới cùng.”
 
Sau khi bàn gian chức vụ tổng thống cho Dương Văn Minh, tối 28 tháng 4, cụ Trần Văn Hương dã dọn ngay về tư gia ở trong đường hẻm đường Phan Thanh Giản, tuy nhiên qua sáng ngày hôm sau, 29 tháng 4, cụ phải trở lại Dinh Phó Tổng Thống ở đường Công Lý một lần cuối cùng để tiếp kiến đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin khi ông Martin đến từ giã cụ.
Trong một cuộc tiếp xúc với Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, cựu phó thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa tại Westminster vào cuối năm 2005, Bác sĩ Viên có cho người viết biết rằng vào sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, ông và bà Trần Văn Văn có đến thăm Cụ Trần Văn Hương một lần cuối và Cụ Hương đã nói với hai người rằng hai vị đại sứ Pháp và Hoa Kỳ có đến mời ông đi tị nạn nhưng ông đã từ chối lòi mời của họ.
 
Vào năm 1978, khi Việt Cộng trả lại “quyền công dân” cho Dương Văn Minh, các anh em đang bị tù “học tập cải tạo” đều bị đi xem hình ảnh và phim chiếu lại cảnh cựu “Tổng thống” Dương Văn Minh đang hồ hỡi hân hoan đi bầu quốc hội ” đảng cử dân bầu” của Cộng sản.
 
Cụ Trần Văn Hương cũng được Cộng sản trả lại “quyền công dân” nhưng cụ đã từ chối. Cựu Tổng Thống VNCH Trần Văn Hương đã gửi bức thư sau đây đến các cấp lãnh đạo chính quyền Cộng sản:
” .. hiện nay vẫn còn có mấy trăm ngàn nhơn viên chế độ cũ, cả văn lẫn võ, từ Phó Thủ tướng, Tổng Bộ trưởng, các tướng lãnh, quân nhân công chức các cấp các chính trị gia, các vị lãnh đạo tôn giáo, đảng phái đang bị tập trung cải tạo, rĩ tai thì ngắn hạn mà cho đến nay vẫn chưa thấy được được Vê’.
“Tôi là người đứng đầu hàng lãnh đạo Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa, xin lãnh hết trách nhiệm một mình. Tôi xin chính phủ mới thả họ về hết vì họ là những người chỉ biết thừa hành mạng lệnh cấp trên, họ không có tội gì cả. Tôi xin chính phủ mới tha họ về sum họp với vợ con, còn lo làm ăn xây dựng đất nuớc.
“Chừng nào những nguời tập trung cải tạo được về hết, chừng nào họ nhận được đầy đủ quyền công dân, chừng đó tôi sẽ là người cuối cùng, sau họ, nhận quyền công dân cho cá nhân tôi”.
Cụ Trần Văn Hương không hề nhận “quyền công dân” của Cộng sản và cho đến khi từ trần vào năm 1981 thì cụ vẫn còn là công dân của Việt Nam Cộng Hòa
 
Thứ tư 30-4-1975 :
Cuộc di tản vẫn tiếp tục trong đêm cho đến rạng ngày 30 tháng 4, tuy nhiên con số người Mỹ còn lại ở Sài Gòn vẫn còn nhiều. Vào lúc 1 giờ 30 sáng, Ngoại trưởng Kissinger ra lệnh cho Tòa đại sứ Mỹ phải kết thúc việc di tản vào lúc 3 giờ 45 sáng, giờ Sài Gòn, và Đại sứ Martin phải ra đi trên chuyến trực thăng trước chuyến bay cuối cùng. Tuy nhiên đến 3 giờ 45 sáng, vẫn còn có trên 400 người tại toà đại sứ Mỹ trong đó có cả Đại sứ Martin. Vào lúc 4 giờ 20 sáng, Đô Đốc Gayler đã quyết định kết thúc cuộc di tản và tất cả các phi công đều nhận được lệnh như sau: “Đây là lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ và lệnh này phải được chuyển lại bởi bất cứ phi công trực thăng nào liên được với Đại Sứ Graham Martin. Chỉ có người Mỹ mới được phép di tản và Đại Sứ Martin phải đáp chuyến trực thăng đầu tiên. Phi cơ chở đại sứ Martin phát đi ám hiệu “Tiger, Tiger, Tiger” để báo cho biết rằng ông Martin đã được di tản”.
 
Vào lúc 4 giờ 58 sáng ngày 30 tháng 4, Đại Sứ Martin”bị hộ tống” lên trực thăng mang tên là Lady Ace 09, trên chiếc trục thăng này một phân đội Thuỷ Quân Lục Chiến đã được lệnh bắt giữ ông đại sứ để áp tãi lên phi cơ nếu ông ta còn chống lại lệnh di tản. Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đã cố tình cưỡng lại lệnh của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nhưng ông lại là ân nhân của một số người Việt Nam vì nếu không có ông thì họ không có may mắn được di tản ra khỏi Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975. Theo Ngoại Trưởng Kissinger thì Đại Sứ Martin đã phối hợp di tản được 6,000 ng­ời Mỹ và trên 50,000 người Việt Nam ra khỏi Sài Gòn.
 
Sau khi Đại Sứ Martin bị hộ tống lên trực thăng, trong toà đại sứ lúc đó vẫn còn gần 200 người Mỹ mà trong số đó có 170 người là lính Thuỷ Quân Lục Chiến có nhiệm vụ bảo vệ cho chiến dịch di tản. Cuộc di tản vẫn tiếp tục cho đến đúng 7 giờ 53 phút sáng ngày 3O tháng 4 năm 1975 thì chiếc trực thăng CH-46 cuối cùng mới rời khỏi sân thượng của toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn mang theo Trung sĩ Juan Valdez, người lính Mỹ và cũng là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam.
 
Chuyến phi cơ trực thăng cất cánh khỏi sân thượng của tòa đại sứ Mỹ vào hồi 7 giờ 53 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 này đánh dấu sự kết thúc của chính sách “ủng hộ miền Nam Việt Nam chiến đấu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản trong vùng Đông Nam Á của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ qua 5 đời tổng thống: Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford trong hơn 20 năm. Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh đã chấm dứt nhưng đối với một số người Việt Nam thì cuộc chiến vẫn chưa tàn. Vào ngày 30 tháng 4, có một số chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tiếp tục chiến đấu dù rằng trong vô vọng.
 
Duơng Văn Minh Ra Lệnh Đầu Hàng
Vào lúc 10 giờ 24 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, “Tổng thống” Dương Văn Minh đã đọc nhật lệnh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh cho tất cả mọi quân nhân thuộc Quân Lực VNCH phải buông súng đầu hàng. Ông Dương Văn Minh đã tuyên bố như sau:
“Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa hợp hòa giải gữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đậu thì ở đó.
“Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính Phủ Cách Mãng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.”
“Thủ tướng “Vũ Văn Mẫu cũng đọc lời kêu gọi mọi tầng lớp dân chúng hãy chào mừng “ngày Hoà bình cho Dân tộc Việt Nam” và ra lệnh cho mọi công chức phải trở về nhiệm sở. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tổng Tham Mưu Phó Quân Lực VNCH nhân danh Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả mọi quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của ” tổng thống” Dương Văn Minh về vấn đề hưu chiến.
Dương Văn Minh cũng đưa ra lời kêu gọi những “người anh em bên kia” hãy ngưng mọi hoạt động gây hấn và ông ta nói rằng chính quyền của ông đang chờ đợi được gặp gỡ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam để cùng thảo luận về ” buổi lễ bàn giao quyền hành và để tránh đổ máu cho nhân dân.” Dương Văn Minh không hề đề cập đến cũng như không đưa ra lời kêu gọi nào với Cộng sản Bắc Việt, lúc đó dường như ông cố tình làm như không biết việc chính Cộng sản Bắc Việt mới là những người lãnh đạo hàng ngũ những ” người anh em bên kia” của ông.
Ông Dương Văn Minh chỉ kêu gọi những “người anh em bên kia” trong cái gọi là “chính phủ cách Mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam”, chắc là ông ta đã nghĩ đến những người lãnh đạo trong cái chính phủ này như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Nguyễn Thị Bình v.v, nhưng ông ta không biết rằng những người mà ông ta kêu gọi đó không hề có một quyền hành nào, còn những kê có quyền hành lúc đó như Lê Đức Thọ, Ván Tiến Dũng, Phạm Hùng, ba ủy viên Bộ Chính trị đại diện cho Hà Nội đang thực sự nắm toàn quyền trong chiến dịch Hồ Chí Minh thì ông ta không có đả động tới.
Thượng Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt và đồng thời cũng là Tư Lệnh Chiến trường Miền Nam Việt Nam lúc đó đang nghe lời kêu gọi của Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn. Ngay sau đó, thay vì tiến về Sài Gòn để “bàn giao” như lời kêu gọi của Dương Văn Minh, Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho “tất cả các quân đoàn, các vùng quân sự và mọi đơn vị các cấp phải tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đã được chỉ định ở sâu trong các đô thị cũng như các tỉnh, kêu gọi địch quân đầu hàng, giao nạp vũ khí và bắt giữ tất cả các sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên; đập tan ngay tức khắc mọi mưu toan kháng cự. ”
 
Ông “Tổng Thống” Dương Văn Minh không thể nào biết được rằng trưa ngày hôm đó, Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương đã gửi điện văn số 516/TV ra lệnh cho các cấp lãnh đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh phải “bắt địch đầu hàng vô điều kiện”: “vấn đề hiện nay là bắt địch đầu hàng không điều điện chứ không phải cử người thương lương với địch để ngưng bắn tại chỗ như có nơi đã làm.
Những nơi địch chịu đầu hàng: ta kéo quân vào bắt địch, hạ vũ khí và tước vũ khí của chúng, giải tán quân đội và bộ máy chính quyền của địch, phát động quân chúng truy kích, tiêu diệt bọn gian ác và phản động còn ẩn nấp chống lại ta.
Những nơi địch không chịu đầu hang: ta cần phát động quần chúng nổi dậy, kêu gọi binh sĩ khởi nghĩa kết hợp với mũi tấn công đánh vào các điểm then chốt của địch, tiêu diệt những đơn vị ngoan cố chống lại ta, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện.
 
Phải đặc biệt chú ý chiếm lĩnh, khống chế các sân bay không để chúng sử dụng các máy bay để chống lại ta và tẩu thoát”.*198
Ngoài bức điện văn nói trên, chính Võ Nguyên Giáp thay mặt cho Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương cũng đã gửi bức điện văn số 151 ngày 3O tháng 4 năm 1975 gửi cho “anh Sáu” tức là Lê Đức Thọ, “anh Bảy” tức là Phạm Hùng, “anh Tuấn” tức là Văn Tiến Dũng, “anh Tư” tức là Trần Văn Trà và “anh Tấn” tức là Lê Trọng Tấn nội dung như sau:
“Theo ý kiến của Bộ Chính Trị và Quân ủy trung ương,
1.việc chỉ đạo Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia định (kể cả những mệnh lệnh, tuyên bố) giao cho Trung Ương Cục và Quân Ủy Miền phụ trách.
2.Hôm nay sẽ ra một lời kêu gọi của Bộ Chỉ Huy Quân giải Phóng. Chúng tôi đang dự thảo và cho phát.
3.Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân.
*198: Đại Thắng Mùa Xuân, trang 329-331.
4. Sẽ tuyên truyền lớn về thắng lơi giải phóng Sài Gòn-Gia Định, nhưng nhấn mạnh cuộc chiến đấu đang tíếp tục nhằm hoàn toàn giải phóng miền Nam. Đã chỉ thị chuẩn bị ngày mừng chiến thắng, sau khi hoàn thành việc giải phóng miền Nam sẽ tổ chức thống nhất cả nước. Anh Tố Hữu sẽ có điện cho các Anh.
5. Mười một giờ đã nhận được tin ta cắm cờ trên Dinb Độc Lập.
Gửi các anh lời chúc đại thắng lơi.
Các anh Bộ chính Trị rất vui, rất vui . . .
VĂN*199
Như vậy thì trước khi xe tăng của Cộng sản Bắc Việt ủi cổng sắt- đã được mở rộng- để vào chiếm Dinh Độc Lập, nơi mà ông “Tổng thống” Dương Văn Minh cùng với các ông “phó Tổng thống” Nguyễn Văn Huyền, “thủ tướng” Vũ Văn Mẫu cùng với một số nhân viên trong “nội các” của họ để chờ “bàn giao” cho Cộng sản thì các giới lãnh đạo ở Hà Nội đã quyết định không coi ông như là “tổng thống” mà chỉ là “một ngưới đã sang hàng ngũ nhân dân,” tức là một kẻ đầu hàng, “đầu hàng không điều kiện” như đã nòi trong văn thư số 505 cùng ngày. Các sĩ quan Cộng sản cấp dưới cũng đã nhận được lệnh này cho nên đối với họ thì những người tự nhận là tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng v.v. đang ngồi trong Dinh Độc Lập chỉ là những kẻ đầu hang mà thôi. .
 
Bởi vậy, vào lúc 12 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, khi chiến xa mang số 879 của Lữ Đoàn Thiết Giáp 203 của quân
*199: văn kiện Đảng: trang 332-333.
đội cộng sản Bắc Việt ủi sập hàng rào sắt tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, “Tổng thống” Dương Văn Minh thấy vị sĩ quan Cộng Sản đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội Nhân dân miền Bắc nên ông Minh tưởng rằng đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp:
“Thưa Quan Sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông”.
Viên sĩ quan Bắc Việt chỉ huy đoàn chiến xa này là Thượng Tá Bùi Tùng đã dùng danh từ “mày tao “ xằng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
“Mày dám nói trao quyền hả? Mày chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mày làm gì có quyền nào để trao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây.
Ngoài ra tao xác nhận với mày là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mày không được ngồi xuống!” *2OO
Người thuật lại những lời đối thoại trên là cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, một người rất thân cận với ông Dương Văn Minh. Vào năm 1963 ông là Thiếu Tá ngành Thiết giáp, đã theo tướng Dương Văn Minh đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm và đã được Dương Văn Minh tin cậy cử vào phái đoàn đi vào Chợ Lớn “đón” ông Diệm. Trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị giết trên xe thiết vận xa M-113
*200 Dương Hiếu nghĩa : “Hồi Ký Dang Dở,” kể lại theo lời của Trung Tá Nguyễn Văn Binh, cựu Quận Trưởng Gò Vấp, cựu dân biểu, có mặt tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi quân Bắc Việt chiếm Sài Gòn. Xuân Thời Luận, Califonia 2004, trang 141.
và từ đó cho đến nay, có nhiều người vẫn còn có nghi vấn là ông Dương Hiếu Nghĩa có thể là một trong những người có trách nhiệm trong cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chắc chắn rằng ông Dương Hiếu Nghĩa không phải là kẻ thù hay có hiềm khích với ông Dương Văn Minh mà đặt điều viết lại sự đối thoại trên đây nếu chuyện đó không có thật.
Chiều hôm đó, Cộng sản không cho phép Dương Văn Minh đọc lởi đầu hàng tại Dinh Độc Lập tức là Phủ Tổng Thống của VNCH, họ đã áp giải ông đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời kêu gọi như sau:
“Tổng Thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bổ chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đền địa phương trao lại cho chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”.
Ngay buổi chiều ngày 30 thỏng 4, Đài Phát Thanh Giải Phóng loan báo kể từ nay, thành phố Sài Gòn được cải danh là ” thành Phố Hồ Chí Minh”.
Kể từ ngày hôm đó, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn đã mất tên, Sài Gòn không còn nữa.
Kể từ ngày hôm đó,
Quốc gia Việt Nam Cộng Hoà không còn nữa.
Và cũng kể từ ngày hôm đó, tại Miền Nam Việt Nam Tự Do cũng không còn nữa